Nuôi dưỡng bệnh nhân ăn qua ống thông

T6, 09/10/2020

1. Đại cương.

Trong những năm thập kỷ 80 của thế kỷ XX, bệnh nhân nặng thường được nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch. Song phương pháp này có nhiều bất lợi, nhất là khi nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch hoàn toàn. Một trong những bất lợi lớn nhất của nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch hoàn toàn là đường ruột bị bỏ trống tạo điều kiện cho hiện tượng thẩm lậu vi khuẩn (bacterian translocation) xảy ra, gây nhiễm trùng, nhiễm độc máu. Vì vậy, từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu đã khuyến khích việc trở lại phương pháp nuôi dưỡng qua đường ruột sớm cho các bệnh nhân nặng.

Ăn qua ống thông là một phương pháp nuôi dưỡng bệnh nhân nặng ở hầu hết các bệnh viện.

Với cách nấu trước đây: ninh xương, thịt, gạo, khoai củ, cho thấy có nhiều bất tiện và hiệu quả dinh dưỡng không cao. Việc đưa thức ăn qua ống thông còn rất hạn chế, vì vậy, cần phải có sự lựa chọn thực phẩm thích hợp và áp dụng kỹ thuật hoá lỏng bột bằng các loại men hoặc engym của một số hạt nảy mầm mới có thể nâng cao được giá trị dinh dưỡng của khẩu phần để đáp ứng cho nhu cầu điều trị.

Việc lựa chọn đường nuôi dựa vào bốn yếu tố: tình trạng sinh lý của đường tiêu hoá, nguy cơ hít sặc, thời gian phải nuôi qua ống thông, kỹ thuật phù hợp nhất với bệnh nhân (cần phẫu thuật, dùng nội soi, soi ổ bụng). Ống thông mũi - dạ dày thường được dùng với bệnh nhân có tình trạng tương đối ổn định, nuôi ngắn ngày, không có các biến chứng như nôn liên tục, trào ngược. ống thông mũi - ruột non (Nasoenteric) có chỉ định trên bệnh nhân đường tiêu hoá còn hoạt động nhưng không được nuôi qua dạ dày. Mở thông thực quản có chỉ định nếu không thể đặt qua đường mũi. Cả hai phương pháp trên có tỷ lệ biến chứng và hiệu quả tương tự nhau, nhưng về mặt kỹ thuật mở thông thực quản khó thực hiện hơn và thường được thực hiện trong quá trình phẫu thuật ung thư vùng đầu cổ hoặc phẫu thuật tạo hình vùng đầu cổ. Nuôi qua mở thông dạ dày được thực hiện khi thực quản bị tổn thương trong khi dạ dày bình thường hoặc khi có trào ngược thực quản mà không có rối loạn nhu động dạ dày, tá tràng, hoặc khi cần nuôi qua ống thông dài ngày trên 3 tuần.

2. Chỉ định.

Ăn qua ống thông được sử dụng cho những bệnh nhân do tình trạng bệnh lý không thể cho ăn qua đường miệng trực tiếp:

+ Bệnh nhân hôn mê: do chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, viêm não, do đường huyết quá tăng trong đái tháo đường, hoặc hôn mê do hạ đường huyết...

+ Bệnh nhân trong giai đoạn sốc bỏng nặng.

+ Bệnh nhân uốn ván.

+ Bệnh nhân tổn thương hàm mặt nặng.

+ Bệnh nhân hẹp thực quản.

+ Bệnh nhân suy mòn nặng...

Tóm lại, ăn qua ống thông cần được xem xét chỉ định ở bất kỳ bệnh nhân nào mà vẫn còn chức năng của dạ dày, ruột nhưng không đưa đủ nhu cầu dinh dưỡng bằng đường miệng. Nó đưa lại lợi ích cho bệnh nhân: giảm nguy cơ nhiễm trùng so với việc sử dụng đường truyền tĩnh mạch, sử dụng chức năng ruột một cách bình thường, tránh được teo nhung mao, giảm được khả năng mất cân bằng điện giải, an toàn, sinh lý và tiết kiệm kinh tế.

Chống chỉ định.

Chống chỉ định nuôi qua đường tiêu hoá trong những trường hợp sau:

+ Viêm phúc mạc.

+ Tắc ruột.

+ Giai đoạn đầu trong hội chứng ruột ngắn.

+ Nôn liên tục.

+ Tiêu chảy nặng, kéo dài.

+ Tình trạng kém hấp thu trầm trọng.

+ Rò ruột (lớn).

+ Xuất huyết đường tiêu hoá ồ ạt.

3. Nguyên tắc xây dựng thực đơn.

+ Các chất dinh dưỡng đưa vào phải tuân thủ nguyên tắc điều trị của từng loại bệnh lý. Ví dụ, hôn mê gan cần phải tăng đường trong khẩu phần, đặc biệt là đường đơn. Nhưng ngược lại, hôn mê do tăng đường huyết thì cần phải giảm đường trong khẩu phần, nhất là đường đơn. Hôn mê do tai biến mạch máu não của cao huyết áp thì cần giảm béo, giảm muối. Còn nếu hôn mê trong chấn thương sọ não như tai nạn giao thông thì không cần phải kiêng khem gì...

+ Số bữa ăn trong ngày: nên ăn nhiều bữa/ ngày (trung bình 6 bữa ngày).

+ Số lượng một bữa tuỳ thuộc vào từng bệnh nhân và tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh. Ở người lớn, trung bình khoảng 300 ml - 400 ml/ một bữa. Ở trẻ em khoảng 200 ml/ một bữa. Nếu bệnh nhân quá nặng có suy mòn phải cho ăn từng ít một rồi tăng dần lên.

+ Dịch nuôi phải nhuyễn để bơm qua ống thông dễ dàng.

+ Đậm độ dinh dưỡng phải cao, trung bình 1kcal/ 1ml.

4. Thực đơn.

Có nhiều công thức để nuôi ăn qua ống thông: một số nơi đã từng dùng các công thức để nuôi dưỡng bênh nhân ăn qua ống thông như sau:

4.1. Nước trái cây:

+ Nước cam hoặc chanh 50 ml.

+ Đường 250 g.

+ Nước sôi để nguội vùa đủ 1000 ml. 1 lít cho 1017 kcal, 218 g glucid.

Công thức này không thể áp dụng lâu dài vì không có protein, lipid.

4.2. Sữa bò:

Sữa đặc 250 g.

Nước sôi vừa đủ 1000 ml.

Hoặc:

Sữa bột tách bơ 120 g.

Đường 50 g.

Dầu ăn 20 g.

Nước đun sôi để nguội vừa đủ 1000 ml.

1000 ml pha theo cách trên cho:

Protein:         22,5 g.

Lipid:            22,1 g.

Glucid:          172,0 g.

Năng lượng:  977 kcal.

4.3. Bột hỗn hợp:

Bột gạo:           40 g.

Bột đậu tương: 40 g.

Bột mộng đậu: 10 g.

Bột mộng ngô: 10 g.

Đường:             100 g.

Sữa bột tách bơ: 20 g.

Dầu ăn:             10 g.

Nước vừa đủ:    1000ml.

1000 ml bột hỗn hợp có:

Protein:        26 g.

Lipid:           17,6 g.

Glucid:         151,5 g.

Năng lượng: 876 kcal.

4.4. Súp rau thịt:

Khoai tây hoặc khoai sọ: 300 g.

Cà rốt hoặc bí đỏ:             100 g.

Su hào:                              50 g.

Thịt nạc:                  50 g - 100 g.

Gạo:                                   30 g.

Bột mộng ngô:                   10 g.

Bột mộng đậu:                   10 g.

Dầu ăn:                              10 g.

Muối ăn:                            4 g.

Nước vừa đủ 1000 ml.

1000 ml súp rau thịt có:

Protein:        20 g.

Lipid:           18 g.

Glucid:         90,2 g.

Năng lượng: 603 kcal.

4.5. Dịch sữa trứng:

Sữa đặc:                250 ml.

Bí đỏ hoặc cà rốt: 150 g.

Trứng gà:              1 quả.

Dầu ăn:                  10 g.

Bột gạo:                 40 g.

Bột mộng:              20 g.

Nước vừa đủ:         1000 ml

1000 ml dịch sữa trứng cho:

Protein:        30,3 g.

Lipid:           37,9 g.

Glucid:         180 g.

Năng lượng: 1181 kcal.

4.6. Các chế phẩm thương mại bán sẵn:

Vivonex, Ensure, Enplus, Enalas...

Các chế phẩm bán sẵn này giá đắt không phù hợp với điều kiện kinh tế của đa số bệnh nhân.

Ví dụ: sữa Ensure hộp 400 g, giá 150.000đ cho:

Protein:        63,6 g.

Lipid:           63,6 g.

Glucid:         226,4 g.

Năng lượng: 1732 kcal.

Tùy điều kiện kinh tế, người ta có thể sử dụng các loại sữa để nuôi dưỡng bệnh nhân, như: Vivonex, Ensure, Enplus, Enalas, bột hỗn hợp... cũng có thể nuôi ăn bằng dịch nuôi như của Bộ môn - Khoa dinh dưỡng Bệnh viện 103, với giá thành hạ, dễ chế biến và đạt hiệu quả dinh dưỡng tốt.

Ví dụ: Bệnh nhân tuổi trưởng thành, với chẩn đoán hôn mê do chấn thương sọ não sau tai nạn giao thông. Cho ăn 400 ml/ bữa x 6 bữa/ngày.

Nguyên liệu một bữa gồm:

Bột gạo tẻ:                         40g.                 Dầu ăn:                  10 g.

Bột đậu nành:                    20g.             Giá đỗ:                 50 g.

Trứng gà:                           1 quả.          Muối:                             1 g.

Sữa hộp:                            10g.             Nước vừa đủ:        400 ml.

Giờ ăn:          7 giờ, 9 giờ, 11 giờ, 14 giờ, 17 giờ, 20 giờ.

Cam 500 g vắt lấy nước bơm riêng làm vài lần sau ăn dịch nuôi trên.

Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần:

Protein:                            132,6 g.

Lipid:                               120,7 g.          

Glucid         :                   307 g.

Năng lượng:                         2920 kcal.

5. Quy trình kỹ thuật.

5.1. Nấu một bữa:

+ Cho bột gạo, bột đậu nành hoà với khoảng 350ml nước lạnh vào đun chín.

+ Sau đó bắc ra để nguội trong 5 -10 phút.

+ Rồi đổ giá đỗ đã xay hoặc giã nhỏ vào ủ 10 - 15 phút để hoá lỏng bột. Sau ủ, cho vào đun sôi.

+ Bắc xuống, cho trứng, sữa, dầu, muối (đã trộn lẫn) vào quấy nhanh tay, rồi đun sôi lại, khi bột sôi bắc xuống ngay (tránh vón trứng).

+ Để nguội khoảng 38 - 390C và đem bơm cho bệnh nhân ăn.

Nên cho bệnh nhân ăn thêm 500g cam hoặc quýt để bổ sung các vitamin và chất khoáng.

Lưu ý: Không vắt nước quả vào dịch nuôi để tránh vón.

Câu hỏi ôn tập:

Câu 1: Đại cương.

Câu 2: Chỉ đinh và nguyên tắc xây dựng thực đơn ăn qua ống thông.

Câu 3: Kê thực đơn.

Câu 4: Quy trình kỹ thuật nấu một bữa ăn qua ống thông.

Tài liệu tham khảo.

1. Bộ môn Dinh dưỡng - HVQY (2008).Dinh dưỡng lâm sàng.NXB Quân đội Nhân dân, tr: 120 - 128.

2. Từ Giấy - Hà Huy Khôi.Giới thiệu một số thức ăn nuôi dưỡng qua ống thông.Một số vấn đề dinh dưỡng thực hành.NXB Y học 1988, tr: 214- 218.

3. Phan Thị kim - Nguyễn Văn Xang.Chế độ ăn nuôi dưỡng bệnh nhân qua ống thông.Thực đơn chế độ ăn trong một số bệnh nội khoa.NXB Y học 1997, tr: 73 - 75.

4. Nguyễn Thanh Chò - Nguyễn Quang Năng và CS.Nhận xét khẩu phần nuôi dưỡng bệnh nhân ăn cơm và ăn qua ống  thông tại Khoa dinh dưỡng viện Quân y 103 trong 5 năm (1994 -  1998).Công trình nghiên cứu y học quân sự, HVQY 2000, só 2,tr: 12 - 26.

5. Trần Thị Hoa.Nghiên cưu công thức bột có đậu xanh nẩy mầm dùng trong điều trị SDDPNL, thể eo đét.

6. Susan E. Well.Tube feeding, Nutrition in the kidney transplant recipiem.Hanbook of kidney transplantation printed in the united states of America 1992, p: 383 - 391.

7. Bell SJ; Molnar JA; Burke JF.Adequacy of a modular tube feeding diet for burned patients.J Am diet assoc 1986; 86(10); 1386 - 91.

8. Charles Muller, Abby S Bloch (2008). Intervention: Enteral and Parenteral Nutrition Support; Krause’s Food & Nutrition Therapy; pp: 506 – 527.

Dịch vụ thiết kế website wordpress