Huyết áp thấp

T6, 09/10/2020

1. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Y học hiện đại

1.1.1. Khái niệm

Bệnh huyết áp thấp biểu hiện lâm sàng chủ yếu là chỉ số huyết áp động mạch cánh tay thấp hơn 90/60mmHg (12/8kPa) theo phương pháp đo huyết áp thường quy ở người trưởng thành, người già trên 65 tuổi thấy chỉ số thấp hơn 100/60mmHg (13,3/8kPa).

1.1.2. Phân loại

Trên lâm sàng, huyết áp thấp phân thành ba loại là huyết áp thấp nguyên phát, huyết áp thấp tư thế và huyết áp thấp thứ phát.

Huyết áp thấp nguyên phát thường gặp ở lứa tuổi 20 – 40, nữ giới cơ thể hư nhược, có thể không thấy biểu hiện triệu chứng hoặc thấy đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, hay quên, mệt mỏi, tức ngực; ngoài việc đo thấy huyết áp thấp ra thì không phát hiện các bệnh khác hoặc do ăn uống kém.

Huyết áp thấp do tư thế liên quan đến thay đổi tư thế đang nằm, ngồi đột ngột đứng lên hoặc do tư thế đứng kéo dài làm cho huyết áp tâm thu hạ hơn 20mmHg (2,67kPa), huyết áp tâm trương hạ hơn 10mmHg (1,33kPa).

Huyết áp thấp triệu chứng là triệu chứng giảm huyết áp của một số bệnh gây nên, thường gặp như bệnh tim mạch, bệnh nội tiết, bệnh mạn tính gây mất máu, mất nước và điện giải…

1.1.3. Chẩn đoán

Huyết áp thấp khi đo bằng phương pháp thông thường thấy áp lực ở động mạch cánh tay người trưởng thành có chỉ số dưới 90/60mmHg (12/8kPa), người già trên 65 tuổi có chỉ số huyết áp dưới 100/60mmHg (13,5/8kPa).

1.1.3.1. Huyết áp thấp nguyên phát

– Có thể một số trường hợp không có biểu hiện triệu chứng.

– Một số trường hợp thấy: đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, hay quên, mệt mỏi, tức ngực.

– Các xét nghiệm cận lâm sàng loại trừ bệnh lý thực thể, tác dụng của thuốc…

1.1.3.2. Huyết áp thấp tư thế

– Do bệnh nhân nằm, ngồi và đứng lên đột ngột hoặc do bệnh nhân phải đứng lâu thì đo chỉ số huyết áp tâm thu giảm dưới 20mmHg (2,67kPa), huyết áp tâm trương giảm dưới 10mmHg (1,33kPa).

– Huyết áp thấp tư thế có thể liên quan đến rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn chức năng co giãn mạch, bệnh nội tiết, dùng thuốc giãn mạch…

1.1.3.3. Huyết áp thấp triệu chứng

Huyết áp thấp triệu chứng là hậu quả của một số bệnh tật gây nên như bệnh tim mạch, nội tiết, bệnh gây mất máu, mất nước điện giải…

1.2. Quan điểm của y học cổ truyền

1.2.1. Khái niệm

Y học cổ truyền xếp các triệu chứng của bệnh huyết áp thấp thuộc phạm trù huyễn vựng, quyết chứng, hư lao.

1.2.2. Nguyên nhân bệnh sinh

– Học thuyết khí huyết:

Chứng bệnh này thường xuất hiện khi rối loạn sau mắc bệnh làm tạng phủ hao tổn hoặc do bẩm tố bất túc. Trên cơ sở đó lại lao động quá sức gây nội thương, hay do hư lâu ngày không hồi phục làm cho nguyên khí hư nhược gây nên bệnh.

+ Bẩm tố hư nhược, hình khí bất túc, hậu thiên không được nuôi dưỡng đầy đủ làm cho khí huyết suy yếu. Khí hư thì dương nhược, khi hư thì âm hao, khí cơ thăng giáng thất thường làm cho thanh dương không thăng. Âm huyết bất túc làm huyết không tràn đầy lòng mạch, khí hao tinh thiếu làm huyết mạch không đi nuôi dưỡng được toàn thân, tâm não không được dinh dưỡng đầy đủ gây nên các chứng trên.

+ Ẩm thực không điều độ, lao động quá sức, thích ăn uống thiên lệch, uống rượu vô độ đều gây tổn thương tâm tỳ. Tỳ vị rối loạn chức năng làm mất nguồn hóa sinh huyết dịch, tâm huyết hao tổn làm huyết không đi nuôi dưỡng được toàn thân, khí huyết hao tổn làm tâm não không được nuôi dưỡng gây nên chứng bệnh này.

+ Mắc bệnh nặng, bệnh lâu ngày làm tích lao thành tật hoặc do tuổi già sức yếu, tinh khí đều hư hoặc do tác dụng phụ của thuốc hoặc do khí huyết âm dương của tạng phủ rối loạn gây nên chứng bệnh trên.

– Học thuyết tạng phủ:

+ Tâm chủ huyết mạch, phế chủ khí. Huyết muốn vận hành trong lòng mạch phải dựa vào sự thúc đẩy của tâm khí. Tâm phế khí hư hoặc tâm dương bất túc làm dương khí không đầy đủ, không đưa lên trên để ôn dưỡng vùng đầu mặt, không nuôi dưỡng được tứ chi nên xuất hiện chứng đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, chân tay lạnh.

+ Tỳ chủ vận hóa và là nguồn hóa sinh khí huyết, chủ thăng thanh dương và giáng trọc âm. Tỳ vị hư tổn, trung khí bất túc làm ảnh hưởng đến nguồn hóa sinh gây tổn thương doanh vệ khí huyết. Tỳ chủ thăng thanh làm khí huyết thanh dương không đưa được lên trên làm rối loạn nuôi dưỡng của não gây chóng mặt. Doanh huyết bất túc làm vệ khí bất cố nên dễ gây ra mồ hôi.

+ Thận là tiên thiên chi bản, chủ tàng tinh sinh tủy, là gốc của nguyên âm nguyên dương. Thận âm bất túc hoặc tuổi cao sức yếu đều có thể gây nên thận tinh hao hư, tủy hải bất túc, não không được nuôi dưỡng đầy đủ gây nên các chứng chóng mặt, đau đầu.

Tóm lại, chứng bệnh này là do khí huyết âm dương hư tổn, trong đó dương khí hao hư là chính. Chứng bệnh này thuộc hư chứng, cũng có khi hư trung hiệp thực, kiêm thêm đàm ứ; bệnh phát nặng thêm khi đói, lao động quá sức, thay đổi tư thế đột ngột. Vị trí bệnh tại tâm, tỳ, thận.

2. BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ

2.1. Biện chứng

Biện chứng về huyết áp thấp chủ yếu liên quan đến rối loạn chức năng của các tạng tâm, tỳ, thận, khí và huyết, âm và dương với các biểu hiện lâm sàng khác nhau. Tùy theo việc coi trọng nguyên nhân bệnh sinh mà có các nguyên tắc điều trị tương ứng.

Vì vậy, khi điều trị người thầy thuốc nên căn cứ vào tình trạng hư tổn của tạng phủ, rối loạn của khí huyết và âm dương để linh hoạt áp dụng các pháp điều trị, không nên cố định vào một pháp nào.

2.2. Nguyên tắc điều trị

– Nếu quá trình phát bệnh huyết áp thấp liên quan đến tạng tâm là chính thì pháp điều trị thường là kiện tỳ ích khí, ôn thông tâm dương, giao thông tâm thận, tư âm phục mạch, ích thận trấn tinh, bổ dưỡng chân âm, ôn bổ tâm thận, hóa đàm thông mạch.

– Nếu nhấn mạnh mối quan hệ của khí với bệnh huyết áp thấp thì thường áp dụng pháp cố khí, bổ khí, hành khí, sơ khí hóa thấp.

– Có trường phái phân huyết áp thấp thành thời kỳ cấp tính và thời kỳ hoãn giải. Đối với thời kỳ cấp tính thì dùng các pháp điều trị là bổ khí hồi dương cố thoát, thanh nhiệt giải độc sinh mạch; thời kỳ hoãn giải thì dùng các pháp điều trị là kiện tỳ ích khí thăng đề, dưỡng tâm sinh huyết vinh não, tư thận trấn tinh sinh mạch, bổ thận tráng dương ích não.

3. PHÂN THỂ ĐIỀU TRỊ

3.1. Thời kỳ cấp tính

Nguyên nhân bệnh sinh của thời kỳ này là do dương khí hư, kết hợp với lao lực quá độ, ăn kém, thay đổi tư thế đột ngột mà phát thành bệnh. Lúc này, khí cơ nhất thời nghịch loạn gây đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, có thể ngã, hôn mê, sắc mặt trắng bệch, hơi thở yếu, ra mồ hôi nhiều, chân tay lạnh, chất lưỡi nhợt, mạch trầm vi. Sau thời gian ngắn thì bệnh nhân lại tỉnh dần, sau khi tỉnh không để lại di chứng.

– Pháp điều trị: bổ khí hồi dương.

– Bài thuốc: do bệnh cấp tính nên cần nhanh chóng điều trị.

Uống bài Độc sâm thang, ngày 01 thang.

Tham khảo thêm về điều trị: Hiện nay, Trung Quốc dùng thuốc tiêm tĩnh mạch chậm như dịch tiêm Sinh mạch (nhân sâm, mạch môn, ngũ vị tử) 10 – 20ml, dịch tiêm Sâm mạch (nhân sâm, mạch môn) 20 – 30ml.

Nhĩ châm: điểm dưới vỏ, điểm thượng thận, điểm nội tiết, giao cảm, tâm, phế, điểm thăng áp.

Cứu: cứu cách tỏi ở rốn hoặc cho bột hồ tiêu vào rốn rồi dùng cao thuốc bít lại và cứu.

3.2. Thời kỳ ổn định

3.2.1. Thể tâm tỳ lưỡng hư

– Lâm sàng: sắc mặt trắng, chóng mặt, đau đầu, hoa mắt, hụt hơi, ngại nói, mệt mỏi, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế nhược.

– Pháp điều trị: bổ ích tâm tỳ.

– Bài thuốc: Quy tỳ thang hoặc Bổ trung ích khí thang.

Bài Quy tỳ thang:

Bạch truật

15g

Đương quy

12g

Phục thần

10g

Hoàng kỳ

20g

Long nhãn

12g

Viễn chí

06g

Táo nhân

10g

Mộc hương

06g

Cam thảo

06g

Nhân sâm

03g

 

 

 

 

Bài thuốc trên sắc uống, ngày 01 thang.

Trong bài thuốc này, nhân sâm có tác dụng “bổ ngũ tạng, an tinh thần, định hồn phách” để bổ khí sinh huyết, dưỡng tâm ích tỳ. Long nhãn có tác dụng bổ ích tâm tỳ, dưỡng huyết an thần. Hoàng kỳ, bạch truật giúp nhân sâm ích khí kiện tỳ. Đương quy giúp long nhãn dưỡng huyết bổ tâm. Phục thần, viễn chí, táo nhân có tác dụng ninh tâm an thần. Mộc hương có tác dụng lý khí tỉnh tỳ, phối hợp với thuốc bổ khí dưỡng huyết làm cho bổ mà không nê trệ ở vị. Cam thảo có tác dụng ích khí bổ trung và điều hòa các vị thuốc. Khi sắc thuốc cho thêm sinh khương, đại táo để điều hòa tỳ vị và giúp cho tăng cường công năng tiêu hóa, hấp thu.

Bài Bổ trung ích khí thang:

Hoàng kỳ

20g

Cam thảo

06g

Nhân sâm

06g

Thăng ma

06g

Sài hồ

12g

Trần bì

06g

Đương quy

12g

Bạch truật

15g

 

 

Bài thuốc trên sắc uống, ngày 01 thang.

Trong bài thuốc này thì hoàng kỳ nhập kinh tỳ, phế; có tác dụng bổ trung ích khí để thăng đề dương khí, bổ phế vệ để cố biểu nên có tác dụng cầm mồ hôi (chỉ hãn). Nhân sâm, bạch truật và cam thảo đều có tính vị ngọt ấm và có tác dụng bổ trung khí, phối hợp với hoàng kỳ để tăng cường tác dụng bổ khí kiện tỳ. Khí hư lâu ngày thường gây tổn thương đến huyết cho nên phối hợp với đương quy để dưỡng huyết hòa doanh. Thanh dương không được thăng làm trọc âm không giáng nên phối hợp với trần bì để hành khí, giúp cho khôi phục thăng giáng làm cho chất thanh trọc được vận hành đúng đường, đồng thời còn có tác dụng lý khí hòa vị làm cho thuốc bổ mà không trệ. Sài hồ, thăng ma là vị thuốc có tính nhẹ, có tác dụng thăng tán nên khi phối hợp các vị thuốc ích khí sẽ có tác dụng thăng đề trung khí hạ hãm. Cam thảo còn có tác dụng để điều hòa vị thuốc.

Nếu hồi hộp, trống ngực, ngủ kém thì gia toan táo nhân 10g, bá tử nhân 12g.

Nếu chóng mặt nhiều thì gia bạch thược 20g, thiên ma 12g.

3.2.2. Thể khí âm lưỡng hư

– Lâm sàng: đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, khó thở nhẹ, hồi hộp trống ngực, miệng khô, chất lưỡi nhợt hoặc hồng, rêu lưỡi ít, mạch trầm tế.

– Pháp điều trị: ích khí dưỡng âm.

– Bài thuốc: Sinh mạch tán.

Nhân sâm    09g            Mạch môn     12g       Ngũ vị tử     06g

Bài thuốc trên vận dụng liều thích hợp để sắc uống, ngày 01 thang.

Trong bài thuốc này thì nhân sâm có tác dụng đại bổ nguyên khí, ích phế sinh tân, cố thoát chỉ hãn; mạch môn có tác dụng tư âm nhuận táo, hiệp trợ cho nhân sâm, khí âm cùng bổ; ngũ vị tử có tác dụng ích khí sinh tân, liễm âm chỉ hãn. Khi dùng ngũ vị tử phối hợp nhân sâm và mạch môn là để ngăn ngừa khí tân ngoại tiết và để khôi phục thương tổn của khí âm.

Nếu bệnh nhân thiên về khí hư thì gia hoàng kỳ 20 – 30g, bạch truật 15 – 20g.

Nếu thiên về âm hư thì phối hợp với bài Nhị chí hoàn (Phù thọ tinh phương):

Đông thanh tử                    Hạn liên thảo

Các vị thuốc trên liều bằng nhau, tán nhỏ rồi hoàn mật ong, mỗi lần uống 09g.

Trong bài thuốc này thì đông thanh tử là quả cây đông thanh (ilex chinensis sims) có tác dụng trừ phong, bổ hư.

Bài thuốc này có tác dụng bổ can ích thận, tư âm chỉ huyết.

3.2.3. Thể thận dương hao hư

– Lâm sàng: đau đầu, chóng mặt, ù tai, hay quên, đau lưng, mỏi gối, sợ lạnh, chân và tay lạnh, tiểu đêm nhiều lần, chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế.

– Pháp điều trị: ôn thận trấn tinh.

– Bài thuốc: Hữu quy hoàn gia vị.

Thục địa

240g

Hoài sơn

120g

Sơn thù

90g

Kỷ tử

120g

Lộc giác

120g

Thỏ ty tử

120g

Đỗ trọng

120g

Đương quy

90g

Nhục quế

60g

Phụ tử chế

60g

 

 

 

 

Nấu thục địa thành cao lỏng, sau đó tán nhỏ các vị thuốc còn lại, trộn cùng với mật ong làm viên hoàn, mỗi lần uống 06 – 09g, ngày 02 lần.

Trong bài thuốc này, phụ tử và nhục quế nhập kinh thận, có tác dụng ôn tráng nguyên dương, bổ mệnh môn hỏa. Lộc giác có vị ngọt mặn hơi ấm, bổ thận ôn dương, ích tinh dưỡng huyết. Ba vị thuốc này phối hợp với nhau để bồi bổ nguyên dương của thận. Thục địa, sơn thù, kỷ tử, hoài sơn đều là các vị thuốc có tính vị ngọt nhuận; tác dụng tư âm bổ thận, dưỡng can bổ tỳ, trấn tinh bổ tủy. Thỏ ty tử và đỗ trọng có tác dụng bổ can thận, cường cân cốt. Đương quy có tác dụng dưỡng huyết hòa huyết và giúp lộc giác bổ dưỡng tinh huyết. Bài thuốc này được cấu tạo từ bài Thận khí hoàn nhưng bỏ đi ba vị thuốc có tác dụng tả (trạch tả, đan bì, bạch linh), đồng thời gia các vị thuốc ôn thận ích tinh để tạo nên bài thuốc chỉ có bổ mà không có tả và lấy ích thận tráng dương để mà trấn tinh ôn dương. Bài thuốc này dùng pháp điều trị là bổ ích nguồn của hỏa để bồi nguyên dương của thận hỏa (hữu thận) nên gọi là Hữu quy hoàn.

Nếu bệnh nhân thấy sợ lạnh, chân và tay lạnh thì gia ba kích 12g, lộc giác 12g, tử hà xa 12g.

Nếu thấy mạch trì thì gia can khương 08g, tế tân 06g, ma hoàng 08g.

Nếu chất lưỡi tím hoặc có ban ứ huyết thì gia xuyên khung 12g, đương quy 12g, hồng hoa 10g để tăng cường hoạt huyết khứ ứ.

4. KẾT LUẬN

– Y học cổ truyền xếp các triệu chứng của bệnh huyết áp thấp thuộc phạm trù huyễn vựng, quyết chứng, hư lao.

– Nguyên nhân gây chứng huyết áp thấp chủ yếu liên quan đến cơ thể vốn dĩ hư yếu hay do ăn uống không điều độ, mắc bệnh mãn tính lâu ngày, tác dụng phụ của thuốc… gây nên.

– Cơ chế bệnh sinh của chứng huyết áp thấp liên quan mật thiết đến rối loạn công năng của các tạng tâm, tỳ, thận. Bản chất bệnh thuộc hư chứng, kết hợp với các nhân tố đàm trệ và huyết ứ.

– Trong điều trị, người thầy thuốc phải căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng để tiến hành biện chứng luận trị, lựa chọn pháp điều trị và bài thuốc cho phù hợp; phối hợp với các biện pháp không dùng thuốc như châm, cứu hoặc điều chỉnh chế độ ăn uống, chế độ luyện tập khí công dưỡng sinh.

Chú ý: phối hợp y học hiện đại, tìm rõ nguyên nhân gây huyết áp thấp để kết hợp dùng thuốc và xử lý cấp cứu khi cần thiết.

 

PGS.TS. Trần Quốc Bảo

Chủ nhiệm Bm-K Y học cổ truyền


Dịch vụ thiết kế website wordpress