Virut cúm

T6, 09/10/2020

Mở Bài:

Bệnh cúm là một bệnh cấp tính đường hô hấp với triệu chứng chủ yếu là sốt cao đột ngột, sổ mũi, nhức đầu, uể oải, bờ phờ đau toàn thân. Nếu không được kiểm dịch tốt, sau vài tháng bệnh cúm có thể lan rộng ra nhiều nước gây đại dịch. Mấy vụ đại dịch cúm nổi tiếng gần đây đã được ghi nhận:

– Đại dịch 1889-1890: virus cúm đã gây dịch ở hầu hết các nước trên thế giới. Không thống kê được số người bệnh và tử vong.

– 1918-1919: đại dịch lan từ Tây Ban Nha ra nhiều nước, làm 500 triệu người mắc bệnh và 20 triệu người chết.

– 1957- 1959: đại dịch lan từ Châu Á sang các lục địa khác (cúm Châu Á) làm 40% nhân loại mắc bệnh. Miền Bắc Việt Nam, năm 1957 thống kê được gần 1 triệu bệnh nhân và năm 1959 gần 2 triệu.

– 1968-1970 dịch cúm từ Hồng Kông lan ra khắp các lục địa (gọi là cúm Hồng Kông). Đầu năm 1970, trong vòng 3 – 4 tuần cúm lan ra khắp các tỉnh Miền Bắc Việt Nam, và số bệnh nhân thống kê được là 1,6 triệu. Từ đó đến nay cứ khoảng vài năm thì cúm lại nổi lên thành dịch: có nhiều đơn vị bị bệnh 30 – 40% quân số, trong vòng vài tuần.

 

1. Đặc điểm sinh học

1.1. Hình thể và cấu trúc

–         Hình cầu, đường kính 80 -120 nm. Cấy truyền nhiều lần qua phôi gà virus có hình sợi.

–         Virus cúm hoàn chỉnh có cấu trúc phức tạp và được phân biệt thành 3 type A, B, C. Cả 3 type có cấu trúc chung gồm 3 phần:

–         Phần lõi của virus là RNA một sợi đơn.

–         Phần vỏ capsid gồm các capsome sắp xếp theo kiểu đối xứng xoắn.

Vỏ ngoài cùng là một lớp lipid có nguồn gốc từ tế bào chủ. Có hai loại glycoprotein xuyên qua màng tạo thành các gai nhú xếp xen kẽ nhau trên bề mặt virus. Hai cấu trúc này là hai kháng nguyên đặc trưng quan trọng của virus cúm, kháng nguyên hemagglutinin (H) và neuraminidase (N).

1.2. Nuôi virus

Thường nuôi ở phôi gà 9-11 ngày tuổi, phát hiện virus bằng p/ư NKHC.

1.3. Sức đề kháng

Nói chung kém chịu đựng ở ngoại cảnh. Ở nhiệt độ buồng (200C)  sống được vài giờ, 56oC sau 30 phút virus bị bất hoạt. Ánh nắng trực tiếp có tác dụng diệt virus cúm sau vài phút. Các chất sát trùng dễ diệt virus cúm. ở 00C – 40C virus cúm sống được vài tuần;          ở lạnh âm virus sống được nhiều tháng.

1.4. Kháng nguyên

Các KN quan trọng của virus cúm nằm ở phần lõi và phần vỏ ngoài.

– Phần lõi của virus cúm chứa 1 phân tử ARN và protein, tương ứng với kháng nguyên S (Soluble). Mặc dù mang toàn bộ mã di truyền của virus nhưng KN này không có ý nghĩa với cơ chế miễn dịch bảo vệ của cơ thể.

– Phần vỏ ngoài chứa hai KN quan trọng là hemagglutinin (H) và neuraminidase (N).

+       KN H còn gọi là tố ngưng kết hồng cầu (NKHC). Kháng nguyên này giúp virus bám vào tế bào niêm mạc đường hô hấp, từ đó xâm nhập vào trong tế bào. Nó có thể bám vào màng hồng cầu người và một số loài động vật làm những hồng cầu này bị dính lại với nhau thành một màng ở đáy ống nghiệm- Đó là hiện tượng NKHC. Kháng thể tương ứng với KN H còn gọi là kháng thể ngăn ngưng kết hồng cầu (NNKHC) có tác dụng bảo vệ .

+       Kháng nguyên N có hoạt tính enzyme làm loãng chất nhầy ở đường hô hấp, giúp virus tiếp xúc dễ dàng hơn với tế bào của niêm mạc. Ngoài ra nó giúp cho virus xâm nhập tế bào dễ dàng, giúp cho sự lắp ráp các thành phần của virus và thoát ra khỏi tế bào. Kháng thể tương ứng với kháng nguyên N cũng có tác dụng bảo vệ cơ thể.

Hai kháng nguyên H và N quyết định đến khả năng gây bệnh của virus cúm và mang tính đặc hiệu type. Tuy nhiên, các cấu trúc H và N lại có thể thay đổi thành các H và N mới. Hiện nay đã phát hiện được 13 cấu trúc kháng nguyên H, ký hiệu từ H1 đến H13 và 9 cấu trúc kháng nguyên N ký hiệu từ N1 đến N9.

1.5. Cách gọi tên virus cúm

Do virus cúm có nhiều type và luôn biến đổi, vì vậy tên của virus cúm được qui ước gọi như sau:

Type (A, B hoặc C)/Địa điểm phân lập virus/Số thứ tự của chủng virus phân lập được/Năm phân lập/Công thức kháng nguyên vỏ ngoài H và N.

Ví dụ: chủng         – A/Singapor 1/57/H2N2

– A2/Hồng Kông /1/68/H3N2

2. Khả năng gây bệnh và miễn dịch

2.1. Khả năng gây bệnh

– Người và nhiều loài động vật máu nóng đều có thể cảm thụ với virus cúm. Khi bệnh nhân cúm ho, hắt hơi hoặc nói to, virus bị bắn tung ra không khí xung quanh (1- 2 mét). Sau đó virus cúm được người lành hít vào đường hô hấp, bám vào các tế bào hình trụ của niêm mạc, nhân lên ồ ạt, làm tế bào bị hủy hoại và bong ra. Sự phát triển ồ ạt của virus cộng với độc tính của chúng và của sản phẩm tế bào bị hủy hoại, gây ra một tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc toàn thân: sốt, bơ phờ, nhức đầu, đau toàn thân kèm theo hội chứng hô hấp cấp: viêm họng, phế quản hoặc viêm phổi cấp. Thời gian nung bệnh rất nhanh, vài giờ cho đến tối đa là 48 giờ.

– Trường hợp nặng virus gây ra viêm phổi nguyên phát. Ngoài ra, virus làm giảm sức đề kháng của cơ thể, số lượng bạch cầu giảm mở đường cho các tạp khuẩn bội nhiễm, gây ra các biến chứng thứ phát như viêm phổi – phế quản, viêm xoang v.v..ở trẻ em virus cúm dễ gây các biến chứng viêm phổi, viêm cơ tim hoặc viêm não nguy cơ tử vong cao.

– Thông thường sau 5 – 6 ngày, khi cơ thể đã có kháng thể đặc hiệu, thì virus dần dần bị quét sạch. Kháng thể đặc hiệu xuất hiện cao nhất vào cuối tuần thứ 2, giữ mức độ đó khoảng 1 tháng rồi giảm dần.  Không có miễn dịch chéo giữa các type và phân type virus cúm.

2.2.Dịch tễ học virus cúm

Trong tự nhiên, virus cúm luân chuyển trong quần thể loài người và một số động vật gần người (lợn, gà, vịt,  chim, trâu, bò…). Trong quá trình luân chuyển của virus cúm có thể có sự tái tổ hợp giữa các chủng cúm người và cúm động vật tạo nên những chủng cúm mới có độc lực cao và có nguy cơ gây đại dịch do quần thể loài người không có miễn dịch với những chủng cúm mới. Bản thân virus cúm do đặc điểm biến dị của chúng sau một thời gian nhất định lại biến đổi sang một chủng có công thức kháng nguyên mới. Chu kỳ biến đổi hoàn toàn kháng nguyên vỏ ngoài của virus cúm khoảng 10 – 20 năm kèm theo đó là đại dịch cúm mới xuất hiện.

Đại dịch cúm thường do virus cúm type A (do tính biến dị cao), virus cúm type B chỉ gây dịch ở một số địa phương, virus cúm type C gây bệnh không điển hình chỉ giới hạn trong tập thể nhỏ, không gây dịch lan rộng.

 

3. Chẩn đoán

3.1. Phân lập virus

Bệnh phẩm là dịch mũi và họng, xử lý tạp nhiễm và tiêm vào phôi gà đã ấp 9 – 11 ngày hoặc đưa vào bình nuôi cấy tế bào. Phát  hiện bằng phản ứng NKHC.  Định type virus bằng phản ứng trung hòa hoặc NNKHC với các kháng huyết thanh mẫu đã biết.

3.2. Chẩn đoán huyết thanh

Thường dùng phản ứng NNKHC với các KN virus cúm nghi ngờ.

Lấy máu hai lần, lần đầu lấy càng sớm càng tốt, tốt nhất lấy trong 3 ngày đầu của bệnh, lần hai cách lần đầu 7- 10 ngày. Đặt phản ứng trong điều kiện giống nhau để tìm biến động kháng thể. Nếu có tăng hiệu giá  kháng thể từ 4 lần trở lên thì kết luận là dương tính.

3.3. Phát hiện nhanh virus trong bệnh phẩm bằng nhuộm  kháng thể huỳnh quang

Đang được nhiều nơi ứng dụng vì đơn giản và nhanh

3.4. Kỹ thuật PCR

Kỹ thuật này được đánh giá là ưu việt nhất do có thể phát hiện virus cúm với độ đặc hiệu 100% trong 1-2 ngày đầu nhiễm bệnh.

 

4. Phòng bệnh và điều trị

4.1. Phòng bệnh

– Việc phòng cúm rất khó khăn do tính biến dị KN của virus cúm type A. Tuy vậy, để ngăn chặn đại dịch cúm người ta vẫn tìm cách chế ra vacxin phòng bệnh. Phải căn cứ vào sinh thái và chu kỳ biến đổi KN của virus cúm, giám sát chặt chẽ tình hình dịch cúm ở mức độ toàn cầu để dự đoán trước chủng có nguy cơ  gây đại dịch. Chế vacxin từ chính những chủng đó có thể ngăn chặn được đại dịch.

– Một hướng khác trong phòng cúm và các bệnh ở đường hô hấp do virus là sử dụng Interferon và Interferonogen:          Interferon là những protein do tế bào sản sinh ra để chống lại sự nhân lên của virus trong tế bào. Interferonogen là các tác nhân kích thích tế bào sinh ra Interferon.

– Có thể cho dùng thêm biện pháp hoá học để bổ sung khi dịch cúm bắt đầu: cho mỗi người trong tập thể uống hàng ngày 100 mg Amantadin trong 3 – 4 tuần.

4.2. Điều trị

Điều trị triệu chứng + giảm viêm + kháng histamin + Amantadin.

KS tuy không có tác dụng đối với virus cúm nhưng vẫn dùng điều trị hoặc dự phòng các biến chứng thứ phát do vi khuẩn ở những cơ thể suy mòn, hoặc có những bệnh mãn tính nặng như : bệnh lao, những người có bệnh tim, viêm thận mãn v.v..

Có thể dùng nước tỏi 5% để rỏ mũi (điều chế ngày nào thì nên dùng hết trong ngày đó).

Các biện pháp điều trị của nhân dân như ăn cháo hành nóng, xông bằng nước những lá cây có tinh dầu thơm (tía tô, rau húng, lá bưởi, lá cam v.v..) có tác dụng tốt, tăng miễn dịch nâng đỡ cơ thể.

VIRUS SỞI

1. Đặc điểm sinh học

–         Hình cầu, đường kính 120-250 nanômét, lõi ARN; Có bao ngoài.

–         Dễ bị diệt bởi sức nóng, ánh nắng mặt trời và các chất sát trùng thông thường.

–         Chỉ có một típ kháng nguyên (KN) không biến đổi.

2. Khả năng gây bệnh

– Nung bệnh 7- 14 ngày. Lây theo đường hô hấp

– Virus phát triển ở niêm mạc đường hô hấp và đường tiêu hoá, vào máu (sốt cao) và cuối cùng gây tổn thương ở da (ban sởi); bệnh nặng có thể gây ỉa chảy nhiều lần, mất nước và các chất điện giải.

– Virus làm giảm mạnh sức đề kháng của cơ thể, dễ sinh biến chứng ở phổi  do bội nhiễm ( phế quản phế viêm).

– Sau khi khỏi bệnh sởi sẽ có miễn dịch suốt đời.

 

3. Chẩn đoán: Chủ yếu dựa vào lâm sàng và dịch tễ, chẩn đoán VSV chỉ làm với những cas không điển hình, gồm:

– Phân lập virus (trên tế bào):

– Chẩn đoán huyết thanh

4. Phòng bệnh và điều trị

Phòng:      + Vacxin sống giảm độc có hiệu quả phòng bệnh tốt

+ Cách ly trẻ bị sởi

Điều trị: Chăm sóc và dinh dưỡng tốt + Chống bội nhiễm.

VIRUS QUAI BỊ

 

1. Đặc điểm sinh học

– Virus quai bị thuộc nhóm MYXO, họ paramyxoviridae. Hình cầu, cấu tạo giống virus cúm, nhưng kích thước to hơn: 150 nanômet.

– Nuôi trên phôi gà đã ấp 7-8 ngày; phát hiện virus bằng phản ứng NKHC.

– Virus có sức chịu đựng tốt hơn virus cúm. ở nhiệt độ buồng virus sống được vài ngày, vì vậy có thể lây gián tiếp qua đồ dùng: đũa, thìa, đồ chơi trẻ em v.v..

–         Chỉ có một típ kháng nguyên không biến đổi.

2. Khả năng gây bệnh

Lây theo đường hô hấp và tiêu hóa, thời gian nung bệnh: 2-3 tuần.

Virus quai bị gây ra các vụ dịch viêm tuyến mang tai cấp trong các tập thể thanh thiếu niên hoặc trẻ em: trường học, quân đội, xí nghiệp, vườn trẻ v.v..

Ngoài biểu hiện lâm sàng điển hình là viêm tuyến mang tai, còn có các biểu hiện khác: viêm tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi, viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng, viêm tụy cấp,  viêm màng não nước trong, viêm não (rất nặng, tuy hiếm).

Đáng chú ý là : viêm tuyến sinh dục có thể dẫn đến mất khả năng sinh đẻ.

Miễn dịch: Sau khi khỏi bệnh, miễn dịch lâu bền, có những trường hợp tái phát, nhưng hiếm.

3. Chẩn đoán

Bệnh quai bị điển hình thì quá rõ về lâm sàng. Vì vậy chỉ làm xét nghiệm những ca không điển hình ( ví dụ: viêm màng não,…).

Phân lập virus: Lấy bệnh phẩm (nước bọt, DNT…) xử lý và tiêm vào phôi gà. Phát hiện VR bằng phản ứng NKHC, xác định bằng P/ư NNKHC.

Chẩn đoán huyết thanh:

4. Phòng bệnh và điều trị

Phòng: Có hai loại vacxin

Vacxin tiêm trong da một lần, liều 0,1ml cho bất cứ tuổi nào, có thể gây miễn dịch nhiều năm. Miễn dịch bắt đầu xuất hiện khoảng 3 tuần sau khi tiêm. Chỉ định tiêm khi bắt đầu có dịch.

Vacxin đường uống: rỏ vào miệng 1-2 giọt. Chỉ định giống như trên.

Điều trị:

–         Bất động phòng biến chứng.

–         An thần + thuốc tăng miễn dịch.

Tài liệu tham khảo:

1-    Vi sinh y học, Học viện quân y, 2011

2-    Vi sinh y học, NXB Y học, 2008

3- Prescott; Harley, and Klein’s; Microbiology, 8th edition by Mc Graw Hill, Higher Education, 2013.

 

 

TS. Nguyễn Thái Sơn


Dịch vụ thiết kế website wordpress