Virus dại (Rabies virus)

T6, 09/10/2020

Virus dại thuộc giống Lyssavirus, họ Rhabdoviridae. Người ta đã mô tả biểu hiện bệnh dại ở chó từ lâu, nhưng mốc thời gian quan trọng nhất đối với bệnh dại là từ năm 1884 khi Louis Pasteur tiêm truyền virus từ chó sang thỏ. Qua nhiều lần cấy truyền, ông đã thu được một chủng virus dại không độc đối với người.

1.1. Đặc điểm sinh học

1.1.1. Virus dại đường phố và virus dại cố định

Pasteur gọi virus dại độc lực, gây bệnh dại là virus dại đường phố (chó bị dại chạy rông ngoài đường phố).

Virus dại cố định là virus đã được thích ứng trong phòng thí nghiệm, có thời gian nung bệnh cố định là 6 ngày khi tiêm virus vào dưới màng cứng não tuỷ thỏ. Chủng virus dại cố định đầu tiên do Pasteur tạo ra năm 1884, virus này đã giảm độc lực và không còn khả năng gây bệnh dại cho chó.

1.1.2. Hình thể, cấu trúc virus

Virus dại có hình quả trứng, kích thước 75 – 180 nm.

Acid nhân là ARN sợi đơn không chia đoạn và không có tính phân cực (trọng lượng phân tử – TLPT 4,6 x 106 dalton). ARN và nucleoprotein của capxit tạo thành 1 phức hợp ribonucleoprotein là nơi tạo ra độc tố của virus. Virus chứa một nucleocapsid hình đối xứng xoắn ốc, mền mại. Virut có bao ngoài.

Khi nhuộm các tế bào nhiễm virus và quan sát dưới kính hiển vi người ta có thể thấy hạt vùi đặc hiệu gọi là tiểu thể Negri – là một tiểu thể đặc trưng tương ứng với sự tích tụ của nucleocapsid mới được tạo ra trong tế bào chất. Các tiểu thể này rất tròn, có ranh giới rõ ràng, rất rễ xác định bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang.

1.1.3. Nuôi cấy

Có thể nuôi virus dại đường phố trên chuột nhắt trắng, thỏ, chuột lang, phôi gà và trên tế bào nuôi (tế bào vero, tế bào lưỡng bội).

1.1.4. Sức đề kháng

Ở nhiệt độ buồng, virus sống được 1 – 2 tuần; Vì vậy đồ dùng dính nước bọt động vật bị dại hoặc nước bọt bệnh nhân được coi như nguy hiểm. Ở tủ lạnh thường (4°C), virus sống được nhiều tháng. Virus có thể tồn tại lâu trong điều kiện đông khô hoặc – 80°C. Ở 60°C, virus chết sau 5 phú; 100°C/ 1 phút. Tia cực tím, formol 0,05%, cloramin 5%, cồn iôt, xà phòng, các chất sát khuẩn bề mặt và các tác nhân oxi hóa.có khả năng làm virus bất hoạt nhanh.

1.1.5. Kháng nguyên

Chỉ có một typ huyết thanh duy nhất; Nhưng có nhiều chủng khác nhau phân lập từ các loài động vật khác nhau (gấu mèo, cáo, chồn, chó, dơi).

1.2. Khả năng gây bệnh

1.2.1. Đường vào của virus

Virus thường từ nước bọt của động vật hoặc người bị bệnh vào động vật và người khác qua vết cắn (99,8%), hiếm gặp qua vết cào xước có dính nước bọt hoặc qua vết liếm của động vật lên vùng da bị xây sát.

1.2.2. Nguồn lây

Bệnh dại là một bệnh của động vật, bệnh có thể lây sang người. Bệnh hay gặp ở động vật hoang dã. Vectơ chính là 1 loài động vật thường nhạy cảm với các virus này. Ở châu Phi và châu Á, virus dại thường có ở loài chó hoang dã. Ở Canada và Mỹ, bệnh dại hay gặp ở cáo, chồn hoặc gấu mèo Mỹ. Ở mexico, Trung Mỹ và nam Mỹ, bệnh hay gặp ở chuột hoang dã. Ở châu Âu, bệnh cũng hay gặp ở loài cáo.

1.2.3. Đường đi của virus trong cơ thể

Từ vết cắn, virus theo dây thần kinh lên não (virus không vào máu), gây tổn thương cho tế bào thần kinh ở vùng sừng amông, ở hành tuỷ. Từ thần kinh trung ương, virus dại theo dây thần kinh tới tuyến nước bọt. Virus có trong nước bọt của chó bị nhiễm 10 ngày trước khi chó bị chết vì bệnh dại.

1.2.4. Biểu hiện của bệnh dại

Biểu hiện đầu tiên là những triệu chứng xuất hiện ở các cơ gần vết thương. Các triệu chứng càng xuất hiện nhanh trong những trường hợp vết thương ở gần thần kinh trung ương và đặc biệt là các vết thương ở vùng dây thần kinh (các vết cắn ở mặt hoặc ở cơ quan sinh dục). Virus dại lan truyền trong não từ tế bào này sang tế bào khác, khu trú chủ yếu ở trung khu điều nhiệt và tuyến hyppotalamus. Sau đó virus sẽ lan truyền gây ô nhiễm nước bọt, giác mạc, dịch não tủy, các tuyến nhày ở mũi và da…

1.2.5. Đặc điểm lâm sàng ở người

Bệnh dại là 1 viêm não – màng não rất nguy hiểm đối với người. Thời gian ủ bệnh trung bình từ 3 – 8 tuần, nhưng đôi khi thời gian ủ bệnh rất dài, có trường hợp thời gian này kéo dài hàng năm. Thời gian này tuỳ thuộc vào vị trí vết cắn và độc lực của chủng virus.

Bệnh biểu hiện đầu tiên bằng 1 hội chứng nhiễm trùng bình thường. Sau đó xuất hiện hội chứng rối loạn cảm giác ở xung quanh vết thương (kể cả vết thương đã lành và chưa lành) và các dấu hiệu tăng cảm ở da. Bệnh nhân có thể biểu hiện hung dữ hoặc lo sợ. Thường có dấu hiệu co thắt các cơ hầu họng với biểu hiện sợ nước, sợ gió. Các triệu chứng sợ nước, sợ ánh sáng là dấu hiệu đặc biệt của bệnh dại. Các dấu hiệu viêm não với biểu hiện tính hung tợn, kích thích thần kinh vận động, ảo giác, co giật, động kinh và hôn mê ngay sau đó, rất hiếm khi các triệu chứng xuất hiện từ từ (khoảng 20% bệnh nhân). Bệnh nhân tử vong trong vòng 3 – 4 ngày do ngừng thở bởi 1 cơn co thắt hoặc liệt cơ hô hấp.

Ở những người bị chó dại cắn, có được tiêm vacxin nhưng tiêm muộn thì triệu chứng dại xuất hiện không đầy đủ và không điển hình. Bệnh nhân có thể không có triệu chứng sợ nước, sợ gió. Bệnh nhân bị liệt dần dần từ chân liệt lên.  Khi liệt tới các cơ hô hấp thì tử vong.

1.2.6. Đặc điểm bệnh dại động vật

Bệnh dại cổ điển thường gặp ở chó và mèo. Thể liệt thường gặp ở dê, cừu và bò. Thời gian ủ bệnh ở động vật rất nhanh, chỉ có loài chuột hoang dã là có thể mang mầm bệnh không triệu chứng. Tất cả các động vật bị bệnh đều có biểu hiện viêm não. Chó, mèo bị bệnh dại có biểu hiện sớm là bỏ ăn, cắn chủ nhà, sau đó bệnh chuyển sang thời kỳ toàn phát, biểu hiện ở một trong 2 thể: thể cuồng (chạy rông, cắn người, cắn các con vật  khác, cào bới đất,) hoặc thể liệt (chó bị liệt nằm một chỗ).

1.2.7.Miễn dịch

Miễn dịch tự nhiên ở người và động vật chưa được biết rõ. Người và động vật được tiêm vacxin dại sẽ có kháng thể trung hoà trong máu kéo dài khoảng 3 tháng. Ở người đã tiêm đủ liều vacxin, nếu được tiêm nhắc lại lần thứ 2 thì kháng thể trung hoà có thể tồn tại trong nhiều năm.

1.3. Chẩn đoán

1.3.1. Bệnh phẩm

Ở bệnh nhân:

– Dịch não tủy: để tìm kháng thể đặc hiệu và kháng nguyên dại.

– Nước bọt và mảnh sinh thiết da: để tìm virus dại và kháng nguyên dại.

– Lấy máu để xác định kháng thể IgM và IgG.

– Bệnh phẩm ở tử thi: có thể là các mảnh tổ chức não.

Các bệnh phẩm phải để trong ống nghiệm vô trùng và bảo quản lạnh, đóng gói và bảo quản cẩn thận để tránh nguy hiểm cho người vận chuyển bệnh phẩm.

1.3.2. Các phương pháp chẩn đoán

Chẩn đoán bệnh dại chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng và hoàn cảnh bị động vật cắn. Chẩn đoán xét nghiệm ít được dùng. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt (điều tra dịch tễ học và các đặc điểm sinh học của typ gây bệnh), có thể dùng các phương pháp XN sau:

– Phân lập virus dại bằng cách nuôi cấy bệnh phẩm vào não chuột hoặc vào tế bào nuôi có nguồn gốc thần kinh.

– Từ các bệnh phẩm là tổ chức thần kinh hoặc các tế bào ngâm ở axeton, người ta có thể nhuộm tìm tiểu thể Nêgri.

– Phát hiện kháng thể IgG, IgM  bằng  phản ứng miễn dịch enzym (ELISA) hoặc phản ứng miễn dịch huỳnh quang:          Sự xuất hiện kháng thể trung hòa trong huyết thanh người tiêm vacxin dại cho phép đánh giá khả năng miễn dịch và giúp cho việc quyết định có tiêm  nhắc lại hay không phải tiêm nhắc lại vacxin dại.

– PCR: mới được ứng dụng gần đây, có giá trị cao trong việc phát hiện ADN đặc hiệu của virus trong DNT, nước bọt, mảnh sinh thiết.

1.4. Phòng bệnh và điều trị

1.4.1. Vacxin dại: có nhiều loại

Vacxin cổ điển của Pasteur (1885): là vacxin sống giảm độc lực, làm từ virus dại cố định cấy vào não tuỷ thỏ, bảo quản trong glyxerin và trong điều kiện lạnh (hiện không dùng vacxin này).

Các vacxin thường dùng là vacxin bất hoạt:

– Vacxin bất hoạt bằng phenol (vacxin fermi, vacxin semple): làm từ virus dại cố định tiêm vào não thỏ hoặc cừu. Tiêm dưới da bụng 20 mũi.

– Vacxin fuenzalida: làm từ virus dại cố định tiêm vào não chuột nhắt trắng mới đẻ (vacxin được bất hoạt bằng beta propiolacton). Tiêm trong da 6 mũi, cách nhau 1 ngày, với liều 0,2 ml/1 mũi cho người lớn và 0,1 ml/1 mũi cho trẻ em.

– Vacxin chế từ virus nuôi trên tế bào nuôi lưỡng bội của người, bất hoạt bằng beta propiolacton. Đây là loại vacxin có độ an toàn cao hơn các vacxin khác. Ở Pháp, thường dùng vacxin chế từ virus được nuôi cấy ở in vitro từ các tế bào nguyên bào sợi của phôi người (MRC5) hoặc trên các tế bào vero, vacxin được lọc vô trùng và cô đặc, vacxin không có chống chỉ định. Vacxin gây được đáp ứng miễn dịch tốt sau khi tiêm 6 mũi (N0, N3, N7, N14, N30 và N90). Có thể tiêm theo phác đồ 3 mũi (N0, N21 và N30). Tuy nhiên, với bệnh nhân trên 40 tuổi, việc gây miễn dịch bằng vacxin cần phải được giám sát kiểm tra, nếu tiêm không đủ liều thì phải tiêm nhắc lại.

* Chú ý: tai biến thường gặp khi tiêm vacxin dại là viêm não dị ứng. Đây là tại biến nặng, khó chữa.

Nguyên nhân gây tai biến là do vacxin có lẫn tổ chức não (tế bào thần kinh của động vật), đây chính là dị nguyên gây nên dị ứng.

– Ngoài  vacxin dại tiêm cho người còn có vacxin tiêm phòng cho động vật là vacxin flury, là vacxin sống, giảm độc lực. Vacxin điều chế từ chủng virus flury, được cấy truyền nhiều lần qua phôi gà và làm cho virus mất ái tính đối với tế bào thần kinh và không còn khả năng gây bệnh. Tiêm  phòng cho chó 3 ml vacxin vào đưới da.

1.4.2. Xử lý khi bị chó nghi dại cắn

Điều trị tại chỗ vết thương

Garô, nặn máu vết cắn, rửa vết thương ngay bằng xà phòng, sau đó rửa bằng dung dịch sát trùng, bôi cồn iôt hoặc rửa bằng cloramin 5%, cồn tuyệt đối, đắp huyết thanh kháng dại (nếu có).

Điều trị bệnh dại

Việc tiêm vacxin là bắt buộc nếu động vật có biểu hiện của bệnh dại.

Động vật bị mất hoặc bị đánh chết thì xử lý như đối với động vật dại.

Động vật cắn người còn khoẻ thì cần phải nhốt và chăm sóc con vật trong điều kiện tự nhiên trong vòng 12 ngày. Nếu trong thời gian theo dõi, động vật  có biểu hiện dần dần xuất hiện các triệu chứng của bệnh dại thì tiêm vacxin cho bệnh nhân. Việc điều trị sẽ được dừng lại hoặc không dừng lại là tùy thuộc vào kết quả xét nghiệm từ động vật. Nếu sau 12 ngày động vật vẫn khoẻ mạnh bình thường thì không phải tiêm vacxin.

Trong trường hợp ngoại lệ, có nhiều vết thương nặng, vết cắn ở mặt, cổ hoặc ở cơ quan sinh dục, thì bác sĩ có thể quyết định dùng vacxin kết hợp huyết thanh kháng dại để gây miễn dịch chủ động.

Tiêm huyết thanh kháng dại: liều 0,25 ml/ 1kg thể trọng. Nên tiêm trong trường hợp bị chó cắn gần thần kinh trung ương (cắn vào đầu, mặt, cổ). Chỉ tiêm huyết thanh kháng dại khi mới bị chó cắn (tốt nhất là tiêm trong vòng 48 giờ kể từ khi bị chó dại cắn).

2.VIRUS EBOLA

Dịch virus Ebola (EVD) hay sốt xuất huyết Ebola (EHF) là tên gọi của một loại bệnh trên người có tỷ lệ tử vong cao đến 90%. Virus gây bệnh này có hàng loạt biến thể. Bệnh do virus Ebola xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1976 tại một ngôi làng gần sông Ebola ở Congo và một ngôi làng khác ở vùng hẻo lánh thuộc Sudan. Tên virus này được đặt theo tên của con sông nơi phát lần đầu phát hiện ra loại virus này.

Các vi rút Ebola thuộc về họ Filoviridae (filovirus) bao gồm năm nhóm (type) riêng biệt: Zaire, Sudan, Côte d’Ivoire, Bundibugyo và Reston. Zaire, Sudan và Bundibugyo là 3 type đã từng gây dịch sốt xuất huyết Ebola lớn (EHF) bùng phát ở châu Phi với tỷ lệ tử vong cao (25-90% trường hợp). Các trường hợp bị nhiễm với các type Ebola Reston, được tìm thấy ở Tây Thái Bình Dương, thường không có triệu chứng, hoặc triệu chứng không điển hình, biểu biện nhẹ.

Dịch Ebola thường xuất hiện từ những ngôi làng hẻo lánh ở Trung và Tây Phi, gần rừng mưa nhiệt đới. Virus lây truyền từ động vật hoang dã sang người sau đó lan ra trong cộng đồng theo hình thức từ người sang người. Tổ chức Y tế Thế giới WHO cho biết loài dơi quạ ăn trái (Pteropodidae) là vật chủ tự nhiên của Ebola. Ngoài ra khỉ đột, vượn, lợn… cũng có thể trở thành vật trung gian truyền bệnh nếu chúng tiếp xúc với nước bọt hoặc phân dơi.

Người nhiễm virus Ebola có thời gian ủ bệnh từ 2 đến 21 ngày, sau đó có các triệu chứng như sốt cao đột ngột, suy nhược, căng thẳng, đau cơ, nhức đầu, đau họng. Tiếp đó, người bệnh ói mửa, tiêu chảy, phát ban, suy giảm chức năng gan và thận, có thể gây xuất huyết nội và ngoại.

Hiện chưa có vaccine hay phác đồ điều trị căn bệnh này.

2.1. Lịch sử phát hiện

–         The Ebola virus was first identified in a western equatorial province of Sudan and in a nearby region of Zaïre (now the Democratic Republic of the Congo) in 1976 after significant epidemics in Yambuku in northern Democratic Republic of the Congo, and Nzara in southern Sudan. Các vi rút Ebola lần đầu tiên được phát hiện ở phía tây của Sudan và khu vực lân cận của Zaire (nay là Cộng hòa Dân chủ Congo) vào năm 1976.

–         Between June and November 1976, the Ebola virus infected 284 people in Sudan, causing 151 deNăm 1976, virus Ebola lây nhiễm 284 người ở Sudan, khiến 151 người chết. In the Democratic Republic of the Congo, there were 318 cases and 280 deaths in September and October. Tại Cộng hòa Dân chủ Congo, có có 318 trường hợp nhiễm và 280 ca tử vong trong tháng Chín và tháng Mười.An isolated case occurred in the Democratic Republic of the Congo in 1977, and there was another outbreak in Sudan in 1979 (33 cases, including 22 deaths). Một ổ dịch tiếp theo ở Sudan vào năm 1979 (33 trường hợp, trong đó có 22 ca tử vong).

–         In 1989, Reston, an Ebola virus subtype, was isolated in quarantined laboratory cynomolgus monkeys (Macacca fascicularis) in Reston, Virginia,           Năm 1989, một virus Ebola subtype, được phân lập trong phòng thí nghiệm kiểm dịch khỉ cynomolgus (Macacca fascicularis) ở Reston, Virginia, USA. From 1989 to 1996, several outbreaks caused by the Ebola Reston subtype occurred in monkeys imported from the Philippines to the USA (Reston in Virginia, Alice in Texas and Pennsylvania) and to Italy. Từ 1989-1996, một số dịch do Ebola Reston subtype xảy ra ở khỉ nhập khẩu từ Việt Nam sang Mỹ (Reston tại Virginia, Alice ở Texas và Pennsylvania) và Italy. Investigations traced the source of all Ebola Reston outbreaks to one export facility near Manila in the Philippines, but the mode of contamination of this facility was not determined. Điều tra truy tìm nguồn gốc của tất cả các dịch Ebola Reston đến một cơ sở xuất khẩu gần Manila ở Philippines. Several monkeys died, and at least four people were infected, although none of them suffered clinical illness. Một vài con khỉ đã chết, và ít nhất bốn người đã bị nhiễm bệnh, mặc dù không ai trong số họ bị bệnh nặng.

–         One human case of Ebola haemorrhagic fever of the Cote d’Ivoire subtype and several cases in chimpanzees were confirmed in Côte d’Ivoire in November 1994. Một trường hợp sốt xuất huyết Ebola đã được xác nhận tại Côte d’Ivoire trong tháng 11 năm 1994.

–         A large epidemic occurred in Kikwit, the Democratic Republic of the Congo in 1995 with 315 cases, 250 of whom died. Một dịch bệnh lớn xảy ra ở Kikwit, Cộng hoà Dân chủ Congo vào năm 1995 với 315 trường hợp, 250 người chết.

–         In Gabon, Ebola haemorrhagic fever was first documented in 1994 (19 cases including 9 deaths). Tại Gabon, sốt xuất huyết Ebola lần đầu tiên được ghi nhận vào năm 1994 (116 trường hợp trong đó có 75 ca tử vong). Successive outbreaks occurred in February (37 cases including 21 deaths) and July of 1996 (60 cases including 45 deaths).

–         In October 2000, Ebola was reported in Gulu district in northern Uganda. Tháng 10/2000, dịch Ebola xuất hiện tại miền bắc Uganda. Between September 2000 and January 2001, the Sudan subtype of the Ebola virus infected 425 cases, including 224 deaths, making this the largest epidemic so far documented of Ebola.

–         Từ tháng 9/ 2000 đến  tháng 01/ 2001, các type Sudan của virus Ebola làm 425 trường hợp mắc bệnh, trong đó có 224 người chết.

–         From October 2001 to December 2003, several Ebola outbreaks of the Zaïre subtype were reported in Gabon and the Republic of the Congo with a total of 302 cases and 254 deaths. Từ tháng 10/2001 đến tháng 12/2003, một số Ebola bùng phát của các type Zaire đã được báo cáo tại Gabon và Cộng hòa Congo với tổng số 302 trường hợp và 254 ca tử vong.  About 1850 cases with over 1200 deaths have been documented since the Ebola virus was discovered.

–         Từ tháng 12/2013 tới ngày 4/8/2014, theo số liệu của WHO, đã có 1.603 trường hợp nhiễm bệnh và 887 người tử vong. Các trường hợp nhiễm bệnh virus Ebola được phát hiện tại 4 quốc gia Tây Phi, bao gồm Guinea, Liberia, Nigeria, Sierra Leone.  Số người tử vong đông nhất tại Guinea với 358 người trên tổng số 485 ca nhiễm bệnh.

2.2. Hình thể, cấu trúc

Các Filoviruses có hình thức đặc trưng dạng sợi có đường kính thống nhất khoảng 80 nm nhưng hiển thị một biến thể rất dài. Virus Ebola có lõi RNA chứa 7 vùng cấu trúc và gen điều tiết mã hóa cho các protein cấu trúc (VP30, VP35, nucleoprotein, enzyme polymerase) và 3 protein màng liên quan (VP40, glycoprotein [GP], và VP24).

2.3. Khả năng gây bệnh

2.3.1. Đường lây truyền

  • The Ebola virus is transmitted by direct contact with the blood, secretions, organs or other body fluids of infected persons. Các virus Ebola được truyền qua tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, hoặc dịch cơ thể khác của người bị nhiễm bệnh.
  • Burial ceremonies where mourners have direct contact with the body of the deceased person can play a significant role in the transmission of EbolaThe infection of human cases with Ebola virus through the handling of infected chimpanzees, gorillas, and forest antelopes — both dead and alive — has been documented in Côte d’Ivoire, the Republic of Congo and Gabon. Các trường hợp lây sang người từ tinh tinh, khỉ đột, và linh dương rừng bị nhiễm bệnh đã được ghi nhận. The transmission of the Ebola Reston strain through the handling of cynomolgus monkeys has also been reported.
  • Health care workers have frequently been infected while treating Ebola patients, through close contact without correct infection control precautions and adequate barrier nursing procedures. Nhân viên y tế rất dễ bị nhiễm bệnh qua tiếp xúc với bệnh nhân sốt Ebola mà không có biện pháp phòng ngừa kiểm soát đầy đủ.

2.3.2. Nguồn chứa tự nhiên

  • The natural reservoir of the Ebola virus is unknown despite extensive studies, but it seems to reside in the rain forests on the African continent and in the Western Pacific. Các nguồn chứa tự nhiên của virus Ebola chưa biết rõ, Virus Ebola dường như tồn tại trong các khu rừng nhiệt đới của lục địa châu Phi và ở vùng Tây Thái Bình Dương.
  • Although non-human primates have been a source of infection for humans, they are not thought to be the reservoir.On the African continent, Ebola infections of human cases have been linked to direct contact with gorillas, chimpanzees, monkeys, forest antelope and porcupines found dead in the rainforest. Trên lục địa châu Phi, nhiễm Ebola sang người có liên quan trực tiếp với khỉ đột, tinh tinh, khỉ, sơn dương rừng và nhím chết trong rừng nhiệt đới.So far, the Ebola virus has been detected in the wild in carcasses of chimpanzees (in Côte-d’Ivoire and the Republic of the Congo), gorillas (Gabon and the Republic of the Congo) and duikers (the Republic of the Congo).
  • Nghiên cứu lây nhiễm trongDifferent hypotheses have been developed to explain the origin of Ebola outbreaks.Laboratory observation has shown that bats experimentally infected with Ebola do not die, and this has raised speculation that these mammals may play a role in maintaining the virus in the tropical forest. phòng thí nghiệm cho một số động vật đã cho thấy con dơi nhiễm Ebola không chết, và điều này cho dự đoán  rằng những động vật có vú có thể đóng một vai trò trong việc duy trì virus trong các rừng nhiệt đới, nhất là Extensive ecological studies are under way in the Republic of the Congo and Gabon to identify the Ebola’s natural reservosinh thái phong phú tại Cộng hòa Congo và Gabon có thể là nơi chứa tự nhiên của Ebola.

2.3.3. Đặc điểm bệnh

Thời kỳ ủ bệnh: từ hai đến 21 ngày.

Symptoms Các triệu chứng Ebola is characterized by the sudden onset of fever, intense weakness, muscle pain, headache and sore throat.đặc trưng: khởi đầu đột ngột sốt, suy sụp nhanh, đau cơ, nhức đầu và đau họng;This is often followed by vomiting, diarrhoea, rash, impaired kidney and liver function, and in some cases, both internal and external bleeding. Tiếp theo là nôn mửa, tiêu chảy, phát ban, suy thận và chức năng gan, trong một số trường hợp, cả trong và ngoài chảy máu;Laboratory findings show low counts of white blood cells and platelets as well as elevated liver enzymes. Giảm mạnh các tế bào bạch cầu và tiểu cầu, men gan tăng cao.

2.4. Xét nghiệm chẩn đoán

  • Specialized laboratory tests on blood specimens detect specific antigens and/or genes of the virus. XN máu phát hiện kháng nguyên và các gen của virus. Antibodies to the virus can be detected, and the virus can be isolated in cell culture.
  • Có thể phân lập virus qua nuôi cấy tế bào. Tests on samples present an extreme biohazard risk and are only conducted under maximum biological containment conditions.
  • Các thử nghiệm trên các mẫu bệnh phẩm nghi ngờ Ebola phải được coi là mức độ nguy cơ lây nhiễm cao nhất và phải tiến hành trong phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp 3 trở lên. New developments in diagnostic techniques include non-invasive methods of diagnosis (testing saliva and urine samples) and testing inactivated samples to provide rapid laboratory diagnosis to support case management during outbreak control activities.
  • Các kỹ thuật chẩn đoán nhanh và xét nghiệm mẫu bất hoạt (bao gồm cả nước bọt và nước tiểu) có thể giúp hỗ trợ kiểm soát ổ dịch.

2.5. Phòng ngừa và điều trị

2.5.1. Phòng ngừa

  • Không có sẵn vắc-xin cho bệnh sốt xuất huyết Ebola. Several potential vaccines are being tested but it could be several years before any is available. Một số vắc-xin tiềm năng đang được thử nghiệm. A new drug therapy has shown some promise in laboratory studies and is currently being evaluated.
  • Suspected cases should be isolated from other patients and strict barrier nursing techniques implemented. trường hợp nghi ngờ nên được cách ly với bệnh nhân khác và thực hiện cách ly khu vực nghiêm ngặt .
  • Tracing and following up people who may have been exposed to Ebola through close contact with patients are essential. Truy tìm và theo dõi những người có thể đã tiếp xúc với Ebola qua tiếp xúc gần với bệnh nhân là rất cần thiết.
  • All hospital staff should be briefed on the nature of the disease and its transmission routes. Tất cả các nhân viên bệnh viện phải được giới thiệu tóm tắt về bản chất của bệnh và đường lây truyền của VR. Particular emphasis should be placed on ensuring that invasive procedures such as the placing of intravenous lines and the handling of blood, secretions, catheters and suction devices are carried out under strict barrier nursing conditions. Các thủ tục xâm lấn như đặt đường tĩnh mạch và xử lý máu, dịch tiết, ống thông và các thiết bị hút được tiến hành trong điều kiện an toàn và cách ly nghiêm ngặt. Hospital staff should have individual gowns, gloves, masks and goggles. Nhân viên bệnh viện phải có áo cá nhân, bao tay, mặt nạ và kính bảo hộ. Non-disposable protective equipment must not be reused unless they have been properly disinfected. Thiết bị bảo hộ không được sử dụng lại trừ khi được khử trùng đúng cách.
  • Infection may also spread through contact with the soiled clothing or bed linens from a patient with Ebola. Quần áo bẩn hay khăn trải giường cần khử trùng nghiêm ngặt.
  • CCommunities affected by Ebola should make efforts to ensure that the population is well informed, both about the nature of the disease itself and about necessary outbreak containment measures, including burial of the deceased.Cần thông báo cho người dân cả về bản chất của bệnh và các biện pháp ngăn chặn ổ dịch cần thiết, bao gồm cả chôn cất người chết. People who have died from Ebola should be promptly and safely buried.

2.5.2. Điều trị

  • Severe cases require intensive supportive care, as patients are frequently dehydrated and in need of intravenous fluids or oral rehydration with solutions containing electrolytes. Trường hợp nặng cần phải tập trung chăm sóc hỗ trợ, bù dịch truyền tĩnh mạch hoặc bù nước qua đường miệng với dung dịch có chứa chất điện giải.
  • No specific treatment or vaccine is yet available for Ebola haemorrhagic fever. Một loại thuốc mới điều trị đã thể hiện một số hứa hẹn trong các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và hiện đang được đánh giá. But this too will take several years. Nhưng điều này cũng sẽ phải mất vài năm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1-    Vi sinh y học, Học viện quân y, 2011

2-    Vi sinh y học, NXB Y học, 2008

3- Prescott; Harley, and Klein’s; Microbiology, 8th edition by Mc Graw Hill, Higher Education, 2013.

 

WHO Media centre                                                                  

 

 


Dịch vụ thiết kế website wordpress