Virus Arbo

T6, 09/10/2020

1. Đại cương về virus Arbo

1.1. Định nghĩa

Virus Arbo (Arthropod borne virus) là những virus do các loài chân đốt hút máu mang và lây truyền giữa các động vật có xương sống (kể cả người).

Virus Arbo nhân lên trong tế bào các loài chân đốt (muỗi, ve…) nhưng không gây bệnh cho chúng.

1.2. Phân loại

Hiện nay đã phát hiện ra khoảng 400 loại virus Arbo xếp thành các nhóm A, B, C … dựa theo tính chất kháng nguyên của chúng, trong đó khoảng 150 loại gây bệnh cho người và gia súc. Nguy hiểm nhất là các virus nhóm A và B (gây viêm não, sốt xuất huyết), gây tử vong cao và được liệt vào loại các virus tối nguy hiểm.

Sau đây là một số virus Arbo quan trọng nhất thuộc nhóm A, B:

Nhóm A: Viêm não tủy ngựa – hay gặp ở Châu Mỹ do muỗi truyền,

Nhóm B: Viêm não Nhật Bản B, Dengue – do muỗi truyền và viêm não ve- do ve truyền.

Trong đó, virus Arbo lưu hành ở Việt Nam là: Viêm não Nhật Bản B, Dengue.

1.3. Đặc điểm gây bệnh

– Các virus Arbo (nhóm A, B) gây ra những bệnh hiểm nghèo, tỷ lệ tử vong cao ( 40-90% với thể điển hình), hoặc nếu còn sống sót thì thường để lại di chứng nặng nề như bại liệt, hội chứng Parkinson…

– Việc chẩn đoán chính xác (xét nghiệm) còn khó khăn, thời gian lâu. Ngoài ra lại chưa có thuốc phòng và điều trị tốt (trừ vacxin sốt vàng).

– Một số virus Arbo nhóm A (gây viêm não tuỷ) không những có thể lây truyền bằng đường tự nhiên (muỗi truyền) mà còn có thể lây bằng đường hô hấp. Thời gian nung bệnh rất ngắn và tỷ lệ tử vong cao.

– Có nguy cơ được các tổ chức khủng bố sử dụng làm vũ khí sinh học.

 

1.4. Đặc điểm sinh học chung

1.4.1. Hình thể, cấu trúc

– Đa số hình cầu, một số hình que, hình sợi.

– Kích thước nhỏ 20-40nm

– Lõi ARN, protein và lipid (Lipid chiếm ~ 40-50% trong cấu tạo).

1.4.2. Nuôi

Thường dùng chuột nhắt trắng non còn bú mẹ để phân lập các virus Arbo. Các virus Arbo khi tiêm vào não chuột đều gây viêm não chuột. Có thể nuôi trên tế  bào trong ống nghiệm.

1.4.3. Đề kháng

– Kém ở nhiệt độ cao: 56oC/30 phút; 100oC/ 1-2 phút.

– Nhiệt độ thấp (-20-70oC): nhiều năm.

– Bị bất hoạt bởi ete và muối mật vì có lipid trong cấu tạo (tiêu chuẩn để phân biệt virus Arbo với các virus khác có ái tính với tế bào thần kinh.)

– Tia cực tím và các thuốc sát trùng (Cloramin, glutaraldehyt…) diệt nhanh virus.

1.4.4. Kháng nguyên

– Hầu hết các virus Arbo đều có kháng nguyên ngưng kết hồng cầu (NKHC) đặc hiệu.

– Giữa các virus trong cùng một nhóm có phản ứng chéo do có yếu tố kháng nguyên chung nhưng không có miễn dịch bảo vệ chéo.

1.5. Chẩn đoán

1.5.1. Phân lập virus

–         Bệnh phẩm: Máu bệnh nhân 1-3 ngày đầu của bệnh. Nếu bệnh nhân chết lấy não, gan trong 6h đầu kể từ khi chết.

–         Tiêm bệnh phẩm đã xử lý vào não chuột nhắt trắng non, còn bú mẹ.

1.5.2. Chẩn đoán huyết thanh:

Lấy huyết thanh đôi- máu được lấy 2 lần, cách nhau 7-10 ngày để phát hiện sự biến động của kháng thể.

– Phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu (NNKHC)

– Miễn dịch enzyme (ELISA).

1.5.3. Sinh học phân tử: phát hiện gen đặc trưng bằng phản ứng PCR (từ máu hoặc mảnh sinh thiết).

1.6. Phòng bệnh và điều trị

1.6.1. Phòng bệnh:

Việc phòng các virus Arbo còn nhiều khó khăn do chưa có vacxin hiệu lực (trừ một số ít virus đã có vacxin).

Chủ yếu là phòng không đặc hiệu:

–  Diệt côn trùng: Muỗi, ve

–  Chống muỗi và ve đốt: nằm màn, xoa dầu xả, DMP, DETA…

–  Dùng tác nhân kích thích cơ thể sinh Inteferon trong máu khi đi vào vùng có dịch.

1.6.2. Điều trị: Chủ yếu là điều trị triệu chứng và nâng miễn dịch.

2. Virus Arbo ở Việt Nam

2.1. Virus viêm não Nhật Bản B

Virus viêm não Nhật Bản B (JAPANESE B ENCEPHALITIS VIRUS) thuộc các Arbo nhóm B, họ Flaviviridae.

Được nghiên cứu và phân lập lần đầu tiên ở Nhật (1934). Lây do muỗi truyền, gây tổn thương nặng ở não, tỷ lệ tử vong cao (60-70%). Lưu hành ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

2.1.1. Đặc điểm sinh học (Xem đại cương virus Arbo)

Hình khối đa diện, đường kính 20-30 nm.

2.1.2. Khả năng gây bệnh

Virus được muỗi truyền qua da, vào máu tấn công vào nội mạc các mao mạch của nhiều tạng, đặc biệt ở não. Mao mạch bị tổn thương dẫn đến phù nề xuất huyết. Từ mao quản ở não, virus xâm nhập sang các tế bào thần kinh đệm, huỷ hoại các tế bào này và từ đó tràn sang các tế bào thần kinh. Gặp các tế bào thần kinh thích hợp, virus nhân lên ồ ạt, huỷ hoại các tế bào và lại tràn ra máu. Nhiều tế bào thần kinh bị tổn thương dẫn đến tổn thương trung khu thần kinh, có thể tổn thương nhiều trung khu ở não dẫn đến tình trạng nặng, biểu hiện bằng 3 hội chứng:

–           Hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc nặng

–           Hội chứng thần kinh định khu

–           Hội chứng não-màng não

Thời gian nung bệnh dài hay ngắn (4 – 14 ngày) lệ thuộc vào các yếu tố độc lực, số lượng ban đầu của virus, sức đề kháng của cơ thể và vào tốc độ nhân lên của virus. Thể điển hình thường nặng, tử vong cao, nếu sống sót cũng để lại nhiều di chứng.

Nhiều người nhiễm virus chỉ bị bệnh ở thể ẩn, thể điển hình nặng chỉ chiếm khoảng 1/500 – 1/1000.

Miễn dịch sau khỏi bệnh: tương đối vững bền.

2.1.3. Chẩn đoán

Theo nguyên tắc chẩn đoán virus Arbo.

2.1.4. Phòng và điều trị

– Phòng :

+ Đã có vacxin. Vacxin hiện nay tiêm 3 mũi theo phác đồ: 0 – 7 ngày – sau 1 năm.

+ Chống muỗi đốt (nhất là vùng có ổ bệnh truyền nhiễm).

– Điều trị: Chủ yếu là điều trị cơ chế triệu chứng và nâng miễn dịch.

2.2. Virus Dengue

Là một virus Arbo nhóm B, thuộc họ Flaviviridae; Gây bệnh sốt xuất huyết do muỗi truyền; Lưu hành ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

2.2.1. Đặc điểm sinh học

Virus Dengue hình cầu, có các đặc điểm về cấu trúc chung của nhóm Virus Arbo (chứa ARN, protein, lipid).

2.2.2. Khả năng gây bệnh

–         Virus gây bệnh sốt xuất huyết có 4 týp, ký hiệu D1, D2, D3, D4 do muỗi A. aegypti truyền bệnh là chủ yếu. Dịch thường phát triển vào mùa mưa (mùa sinh sản của muỗi).

–         Cơ chế xuất huyết được nhiều tác giả đề cập đến là cơ chế dị ứng thành mạch: Những người bị nhiễm virus lần đầu thường là bệnh nhẹ, chỉ có hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc, giãn mạch xung huyết mà không có xuất huyết (còn gọi là bệnh Dengue cổ điển hay sốt Dengue).

Lần sau nếu cơ thể bị tái nhiễm, do đã có mẫn cảm nên gây ra một tình trạng dị ứng bệnh lý. Biểu hiện bệnh ngoài các triệu chứng của bệnh Dengue cổ điển có thêm xuất huyết, tình trạng bệnh nặng hơn, giảm khối lượng máu lưu hành. Trường hợp này gọi là bệnh sốt xuất huyết Dengue.

Miễn dịch sau khỏi bệnh: không bền (cùng type: 18 tháng, khác type: 2 tháng).

2.2.3. Chẩn đoán

– Phân lập: Theo nguyên tắc chẩn đoán virus Arbo.

– Chẩn đoán huyết thanh: Lấy huyết thanh 2 lần. Các phản ứng:

+ Ngăn ngưng kết hồng cầu

+ ELISA phát hiện IgM kháng Dengue

+ Miễn dịch huỳnh quang gián tiếp.

– Sinh học phân tử: PCR

2.2.4. Phòng và điều trị

– Phòng: Chưa có vacxin

Chủ yếu là diệt muỗi và tránh muỗi đốt.

– Điều trị:

+ Điều trị triệu chứng

+ Hồi phục khối lượng tuần hoàn.

3. Xu hướng lan truyền một số virus Arbo mới

Trong những năm gần đây có nhiều tác nhân virus mới gây bệnh cho người và động vật đã được phát hiện nhiều trên thế giới. Các vụ dịch gây ra bởi virus West Nile (WN) – viêm não miền tây sông Nile –  một loại virus lây truyền qua muỗi đã được ghi nhận nhiều nơi trên thế giới như một số nước Châu Âu, Châu Mỹ. Ở Việt Nam qua giám sát virus học và huyết thanh học các trường hợp có hội chứng não cấp chưa phát hiện trường hợp nào dương tính với kháng nguyên WN. Tuy nhiên những cảnh báo sự xuất hiện virus WN ở vùng Đông Nam Á và những lý do khủng bố sinh học bằng loại tác nhân này qua đường hô hấp càng làm cho việc nghiên cứu WN trở nên cần thiết hơn.

Virus WN thuộc giống Flavivirus họ Flaviriridae, nằm trong phức hợp của kháng nguyên virus viêm não Nhật Bản. Phức hợp này có 4 virus gây hội chứng não cấp (HCNC) đó là: virus viêm não Nhật  Bản ở Châu Á, virus viêm não St. Louis ở Bắc và Nam Châu Mỹ; virus Kunjin; và virus viêm não thung lũng Valley ở Châu úc (Murray Valley encephalitis). Ở Việt Nam, các nhà khoa học đã biết tương đối cặn kẽ về virus viêm não Nhật Bản; còn 3 loại virus trên chưa có điều kiện tiếp cận, nhất là loài virus gây sốt viêm não thung lũng Valley đã được ghi nhận là tác nhân sinh học nguy hiểm trong những năm gần đây.

Trong điều kiện tự nhiên, virus WN lây truyền qua các loài muỗi Culex, các loài chim. Người cũng như các động vật có vú khác là những vật chủ ngẫu nhiên. Đặc biệt gần đây có những trường hợp lây nhiễm virus từ dụng cụ phòng thí nghiệm sang cho người. Đây cũng là những điểm rất đáng được chú ý.

Những vụ dịch lớn do virus WN đã liên tiếp xảy ra ở những vùng trước đây không có bệnh hoặc rất hiếm thấy như ở Algeri (1994), Morocco (1996),. Cônggô (1998), Italia (1998), Israen (1997- 2000), Nga (1999), Pháp (2000), đặc biệt là ở Hoa Kỳ từ năm 1999 đến 2006. Các trường hợp mắc bệnh ở Hoa Kỳ được ghi nhận có tuổi dao động từ 5 tuổi- 95 tuổi. Các trường hợp có triệu chứng lâm sàng nặng và tử vong chủ yếu gặp ở người lớn tuổi. Những vụ dịch xuất hiện ở Bắc Mỹ đã trở thành một mối lo ngại thực sự cho toàn cầu về khả năng có thể xuất hiện virus WN ở những khu vực mà trước đây chưa bao giờ lưu hành loại virus này.

Cho đến nay vẫn chưa có vacxin và thuốc đặc trị để phòng và điều trị viêm não do WN. Các thuốc điều trị kết hợp chỉ giúp cho việc giảm bớt các triệu chứng do phù não gây nên.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ môn Vi sinh y học, Học viện Quân y (2011), Vi sinh y học,  NXB QĐND

2. Bộ môn Vi sinh y học, Học viện Quân y (2008), Vi sinh y học, giáo trình Sau Đại học NXB QĐND.

3. www.uptodate.com/application/topic/print.asp: Identifying and managing casualties of biological terrorism.

 

 


Dịch vụ thiết kế website wordpress