Viêm phổi thùy
Tìm kiếm :   Tiếng Việt English

Viêm phổi thùy


1. Đại cương.

+ Viêm phổi là một tổn thương viêm cấp tính, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do vi  khuẩn như phế cầu khuẩn, tụ cầu sinh mủ... gây nên.
+ Tổn thương của viêm phổi chủ yếu sảy ra ở phế nang, tiến triển theo 3 giai đoạn kế tiếp nhau: giai đoạn xuất tiết, giai đoạn gan hoá đỏ, giai đoạn gan hoá xám và đều có 2 đặc điểm chung.
* Tổn thương có kích thước lớn, chiếm gần toàn bộ hoặc cả một thuỳ phổi.
* Hình ảnh vi thể của các tổn thương ở từng giai đoạn phần lớn đều giống nhau trong khắp cả khối viêm.

2. Tổn thương mô bệnh học.
2.1- Giai đoạn xuất tiết: thường nhẹ và ít gây tử vong.
* Đại thể: vùng phổi tổn thương căng, hơi chắc, màu đỏ tím, bóp vẫn còn tiếng lạo sạo phế nang, mặt cắt màu đỏ tím và có nhiều dịch bọt hồng chảy ra. Cắt phổi thả vào nước nổi hoặc lơ lửng.
* Vi thể: Thành phế nang thấy các mao mạch xung huyết, chứa đầy hồng cầu. Lòng phế nang chứa dịch phù, ít sợi tơ huyết và bạch cầu đa nhân, đại thực bào, tế bào biểu mô long của phế nang.
2.2- Giai đoạn gan hoá đỏ:
* Đại thể: vùng phổi tổn thương vẫn căng, chắc, màu đỏ xẫm hơn, bóp thấy mất tiếng lạo sạo phế nang. Phổi bị đông đặc lại, chất phổi mủn nát, ấn mạnh ngón tay có thể chọc thủng nhu mô phổi. Mặt cắt dễ, hơi giáp , màu đỏ giống tổ chức gan tươi, gạt dao có dịch đục hơi đỏ chảy ra. Cắt phổi thả vào nước chìm.
* Vi thể: Thành vách phế nang vẫn dày, phù, các mao mạch xung huyết. Lòng phế nang chứa nhiều sợi tơ huyết, hồng cầu, ít dịch phù và một vài bạch cầu đa nhân, tế bào biểu mô long của phế nang.

2.3- Giai đoạn gan hoá xám.
* Đại thể: vùng tổn thương của phổi vẫn căng, chắc, màu xám. Mặt cắt khối viêm khô giống như tổ chức gan ôi, gạt dao có ít dịch chảy ra
* Vi thể: Thành vách phế nang dầy, các mao mạch xung huyết, lòng phế nang chứa nhiều bạch cầu đa nhân, ít dịch tơ huyết là do các bạch cầu xâm lấn vào các đám tơ huyết và tiết ra men làm tan các sợi tơ huyết đi, chất tơ huyết bị tan ra sẽ được tống ra ngoài theo đường phế quản.

Hết giai đoạn gan hóa xám, lòng các phế nang được rửa sạch và tổ chức phổi được phục hồi hoàn toàn

3. Tiến triển.
Nếu viêm phổi được điều trị kịp thời và khả năng đáp ưng miễn dịch của cơ thể tốt, viêm phổi có thể khỏi hoàn toàn.

+ Tổn thương tiêu biến: Bạch cầu đa nhân và đại thực bào tiết ra Enzym tiêu protein và một số men khác làm cho các lưới sợi tơ huyết tan đi, hình thành một thứ nước sánh rồi lỏng dần và sau đó được thải ra ngoài theo đường phế quản, dưới hình thái đờm và qua phản xạ ho của bệnh nhân. Khối viêm phổi từ chắc sẽ mềm dần và trở về màu sắc bình thường.
+ Tổ chức hoá: Bạch cầu đa nhân và đại thực bào yếu dần không làm hết được dịch rỉ viêm tơ huyết, làm cho rỉ viêm tơ huyết dính vào vách phế nang hoặc có thể thoái hóa trong . Đồng thời tổ chức liên kết thành phế nang tăng sinh, phát triển vào lòng phế nang tạo thành tổ chức hạt và xơ hóa.
+ Tạo thành ổ áp xe: hiếm gặp, tổn thương thường khư trú, có vỏ xơ bao bọc, trong là tổ chức hoại tử. Thường thấy ở người già, người suy giảm miễn dịch, nghiện rượu, xì ke, ma túy, mắc bệnh đái tháo đường..v.v.

4. Liên hệ với lâm sàng.

4.1. Giai đoạn xuất tiết: bệnh nhân rét run, sốt cao đột ngột có khi tới 40 độ, khó thở, đau ngực, đờm loãng, nghe phổi thấy có ít ran nhỏ. Giai đoạn này diễn ra nhanh trong vài giờ đến một ngày.

4.2. Giai đoạn gan hóa đỏ: bệnh nhân vẫn sốt cao, khó thở và thở nhanh, đau ngực, ho nhiều, đờm đặc màu rỉ sắt, gõ đục và rung thanh tăng, nghe phổi không thấy ran mà có tiếng thổi ống. X quang thấy màng phổi có hình ảnh mờ đều. Xét nghiệm máu thấy bạch cầu đa nhân tăng, tốc độ lắng máu tăng. Giai đoạn này kéo dài vài ngày đến một tuần.

4.3. Giai đoạn gan hoá xám: bệnh nhân vẫn khó thở, đờm đặc màu xanh đục. Khi dịch rỉ viêm tiêu biến thì nhiệt độ giảm hẳn, bệnh nhân ho nhiều, đái nhiều, đờm loãng và ít dần, nghe phổi có ran nổ trở lại, bệnh nhân đỡ khó thở và tình trạng khá dần lên.

 

 

 

 

VIÊM PHỔI ĐỐM

 


1. Đại cương:

Viêm phổi đốm là tổn thương viêm cấp tính, còn được gọi là viêm phế quản phổi hay phế quản phế viêm. Nguyên nhân thường do vi khuẩn tụ cầu vàng. Chiếm khoảng 90% và hay gặp ở trẻ em từ 2 tháng tuổi trở lên.
* Đặc điểm tổn thương.
- Sảy ra ở cả phế quản và phế nang.
- Tổn thương thành từng ổ có giới hạn rõ, các ổ tổn thương xuất hiện dần dần kế tiếp nhau, tiến triển độc lập với nhau, do đó tổn thương của các ổ có thể nặng nhẹ khác nhau.
- Ngay trong trong mỗi ổ tổn thương cũng không đồng nhất mà có từng vùng tổn thương khác nhau.

2 . Tổn thương mô bệnh học.
+ Hình ảnh đại thể:

- Các ổ viêm thường nằm rải rác ở một thùy hoặc nhiều thùy, có khi xuất hiện trong nhu mô ở cả hai phổi, hay gặp ở mặt sau của thùy đáy.

- Hai phổi xưng, xung huyết. Mặt ngoài có những có các hạt viêm to nhỏ nổi lên, có màu đỏ xẫm hay màu vàng, nắn phổi thấy ổ viêm răn chắc, cứng , nếu bóp mạnh sẽ thấy tổ chức mủn nát đùn ra. Mặt cắt những ổ tổn thương nổi cao hơn, kích thước bằng hạt đỗ, hạt lạc, màu đỏ hơn tổ chức phổi lành, hơi rắn.

- Màu sắc các ổ viêm loang lổ, không giống nhau giữa các ổ viêm và ngay trong từng ổ viêm: đỏ xẫm, đỏ tím, nâu, hồng, vàng, vàng nhạt…xen kẽ nhau, ấn vào khối viêm thấy chảy ra một thứ dịch đục như mủ lẫn máu chảy ra, nếu cắt thả vào nước sẽ chìm.

- Màng phổi có thể vẫn bình thường hoặc có thể bị tổn thương viêm, đó là những đám tơ huyết hoặc đôi khi là mủ do ổ viêm vỡ vào hố phúc mạc gây nên.

+ Hình ảnh vi thể.

- Trung tâm ổ viêm hay giữa các hạt viêm là phế quản viêm mủ, lòng chứa nhiều dịch rỉ viêm tơ huyết, bạch cầu đa nhân thoái hóa và tế bào mủ, biểu mô phủ của phế quản có thể bị loét bong ra từng mảng. Thành phế quản phù, các mạch máu xung huyết và xâm nhiễm nhiều tế bào viêm bạch cầu đa nhân.
- Các phế nang quanh phế quản bị tổn thương tạo thành 3 vùng đồng tâm, từ trong ra ngoài gồm:
* Các phế nang viêm mủ nằm sát với phế quản viêm mủ, lòng phế nang chứa nhiều tế bào viêm và tế bào mủ, thành phế nang phù, các mạch máu xung huyết.
* Tiếp đến là các phế nang viêm tơ huyết: lòng phế nang chứa nhiều sợi tơ huyết và một số tế bào viêm.
* Ngoài cùng là các phế nang viêm xuất tiết: lòng chứa nhiều dịch phù và ít tế bào viêm.

3. Tiến triển.
Cũng giống như các bệnh nhiễm khuẩn khác, diễn biến cảu viêm phổi đốm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chủng vi khuẩn gây bệnh, đường lây, cơ địa bệnh nhân, thời gian mắc bệnh, chẩn đoán và điều trị…ở những bệnh tiên phát và vi khuẩn gây bệnh ít độc tính thì bệnh sẽ khỏi nhanh nếu điều trị tích cực. ở những cơ địa yếu và bệnh thứ phát thì tổn thương thường có diễn biến kéo dài, hay có các biến chứng và di chứng như.
- Áp xe phổi: là một tổn thương khư trú, áp xe phổi ở người lớn thường tiên phát, kích thước lớn và thường có một ổ, còn áp xe phổi ở trẻ em thường có nhiều ổ và có kích thước nhỏ, ổ áp xe có thể vỡ gây viêm màng phổi mủ, viêm màng tim mủ, hoại thư phổi hoặc khạc được mủ ra ngoài nếu ổ áp xe phổi được thông với phế quản. Nếu kháng sinh làm tiêu được ổ áp xe thì có thể để lại những bóng khí trên phổi. Nếu điều trị muộn hoặc ổ áp xe không tiêu được thì ổ áp xe sẽ được tổ chức hóa và tạo thành một mô hạt.
- Xơ hoá phổi: có thể gây xơ cứng cục bộ ở phổi hoặc ở màng phổi đẻ lại những di chứng lâu dài và hầu như không hồi phục được.
- Giãn phế quản hay gặp ở những trường hợp viêm phổi đốm kéo dài, có ho nhiều và có liên quan nhiều tới các viêm mạn tính ở vùng mũi họng. Giãn phế quản ở trẻ em thường khư trú.

Các tổn thương xơ hoá phổi và giãn phế quản làm cho chức năng trao đổi oxy và bảo vệ của phổi bị suy giảm và dễ làm cho bệnh nhi sau này mắc một số bệnh của phổi như lao phổi , bệnh bụi phổi...

4. Liên hệ với lâm sàng.

- Triệu chứng lâm sàng ban đầu thường giống như viêm phế quản cấp tính. Khi  bệnh tiến triển bệnh nhân thấy sốt cao, rét run, thở nhanh và khó thở, mạch nhanh, tím tái, đờm có bọt lẫn máu, mủ.

- Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, âm thầm, lặng lẽ hay gặp ở những cơ địa yếu như trẻ em đẻ non, còi xương, suy dinh dưỡng hoặc mắc một số bệnh mãn tính, do vậy bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng không điển hình nhưng tổn thương phổi lại rất nặng nề. Tuy nhiên trên hình ảnh X quang vẫn thấy rõ tổn thương của viêm phổi đốm. Triệu chứng lâm sàng rầm rộ, diễn biến nhanh hay sảy ra ở những trẻ bụ bẫm, mạnh khỏe.

 

Ung thư phổi

Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Mỹ và các nước công nghiệp phát triển . Trước đay tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới nhiều hơn nữ . Do thay đổi công việc và thói quen hút thuốc sau thế chiến thứ 2 tỷ lệ ung thư phổi ở nữ giới càng tăng lên . Đã có các chiến dịch chống hút thuốc được phát động nhưng tỷ lệ ung thư vẫn còn rất cao . Chính vì vậy điều cần ghi nhớ vẫn còn giá trị cho chúng ta là :

Ung thư phổi là một trong các ung thư thường gặp ở trong cơ quan bên trong của cơ thể điều này đữ được đự đoán từ năm 1990 ở mỹ hàng nam có khoảng 150.000 người chết vì ung thư , ở ta chưa có thông kê về bệnh này .

Ung thư phổi trong nhiều trường họp liên quan đến hút thuốc lá . Mặc dầu chưa xác định chắc chắn ung thư phổi do hút thuốc nhưng các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh có mối liên hệ giữa ung thư phổi và hút thuốc là . Gần 90% bệnh nhân ung thư phổi hút thuốc lá

Ung thư phổi hiếm gặp ở người dưới 40 tuổi , tuổi càng cao tỷ lệ ung thư càng nhiều cân xứng với nhau .

Ung thư phổi các triệu chứng chẩn đoán còn nghèo nàn , tỷ lệ sống trên 5 năm 10-15% và trong nhiều trường hợp bệnh không thể cứu chữa được .

Nguyên nhân và bệnh sinh

Nguyên nhân nào dẫn đến ung thư phổi cho đến nay vẫn còn là điều chưa được hiểu biết đầy đủ . các chất hoá học khác nhau trong khói thuốc lá có thể tác động như tác nhân sinh ung nguyên phát . Trong khói thuốc chứa nhiều các chất có hại có khả năng sinh ung . Ngày nay khói thuốc đã được  Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về Ung thư (International Agency for Research on Cancer - IARC) trực thuộc Tổ chức Y tế Quốc tế (WHO) xếp vào các chất gây ung thư bậc 1, là nhóm xếp những chất mà chỉ cần khối lượng nhỏ cũng có thể gây ung thư, Khói thuốc cấu tạo từ một hỗn hợp khíbụi. Theo Tổ chức Y tế Quốc tế (WHO), trong khói thuốc có khoảng 4000 chất hóa học, trong đó có 40 được xếp vào loại gây ung thư [1]. gồm những chất như nicotin, oxide carbon, hắc ínbenzene, formaldehyde, ammonia, acetone, arsenic, hydrogen cyanide ngoài ra chúng gây ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thần kinh, mạch máu và nội tiết gây ra những bệnh cho các cơ quan này .

Cấu trúc hoá học của chúng thường là polycyclic hydrocarbon vòng . Khói thuốc lá người ta còn thấy gây đột biến gen của vi khuẩn trong các thí nghiêm nuôI cấy trong ống nghiệm trong các test Ames . trong tổ chức nuôI cấy các chất hoá học này có thể bắt đầu chuyển tế bào lành tính sang tế bào ác tính của động vật có vú . Điều đó được cho là các tác nhân sinh ung thư của khói thuốc lá tác động hình thành các tế bào phế quản chuyển thành ác tính và tăng cường phát triển xâm lấn của chúng .Tác động này có thể là các tác động trực tiếp của các tác nhân sinh ung thư nên DNA của nhân tế bào chúng tác động nen các gen sinh ung thư hay đột biến và ức chế gen ức chế khối u .

Khi hít ( hút thuốc ) vào các chất tiền sinh ung procarcinogenesis ) chúng sẽ chuyển thành các chất sinh ung thông qua các enzyme trong bào tương của tế bào phế quản .CáI gì xui khiến các enzyme này điều đó là khả năng tiềm tàng của chất gây ung thư . về mặt di truyên đã được xác định .nó cao ở người này và thấp ở người khác . Cho nên ta thấy không phảI tất cả người hút thuốc đều ung thư , cũng như vậy ung thư không có khuynh hướng tăng trong một số gia đình ,Trong khói thuốc lá khi hít vào một số loại chưng tỏ là tác nhân sinh ung thư .nhwng cũng còn nhiều các chất khác tăng xúc tác cho khởi phát của khối u . Các nghiên cứu về mô học của biểu mô đường hô hấp trong người hút thuốc chỉ ra rằng .Nhiều trường hợp ung thư phế quản thường kết hợp với các biến đổi tổn thương trước khối u và nó có thể coi là tác động phối hợp với các yếu tố sinh  ung .

Điều đó đã được đề xuất rằng  bước mở đầu dị sản biểu mô phế quản . đây là đáp ứng thích nghi , tổn thương lành tính bởi sự hình thành tế bào bình thường , biêu mô trụ giả tầng , biêu mô trụ thành biêu mô gai . Dị sản là tổn thương ban đầu có hồi phục Nếu ngừng hút thuốc tổn thương sẽ mất và cấu trúc phế quản trở lại bình thường . Nếu như các tác nhân gây ung tồn tại dị sản sẽ trở thành ung thư biêu mô tại chỗ ,sau đó thành ung thư xâm lấn . Nhiều trong loại ung thư này là ung thư biểu mô gai . Di sản gai giảI thích cho  paradoxical nghịch lý tại sao có ung thư biểu mô gai trong tổ chức phhé quản bình thường không có tổ chức này .

Nếu như tế bào hình thành kém biệt hoá ta có loại mô học ung thư tế bào lớn kém biệt hoá ( có nguồn gốc từ tế bào mầm stem ) undifferentiated large-cell carcinoma .

Trong một số ung thư phế quản tế bào ác tính được hình thành từ tế bào thần kinh nội tiết (neuroendocrine cells )bình thường các tế bào này có ở trong phế quản , các khối u của tế bào này được gọi là u tê bào nhỏ (small cell carcinoma ).

Cuối cùng trong một số khối u bao gồm tế bào trụ giống như tế bào bình thường của phế quản các tế bào này hình thành các ống tuyến không đều và đượ gọi là adenocarcinoma .

Các ung thư ở trung tâm rốn phổi có thể có 4 loại typ về mô học còn ung thư thể ngoại vi thường là ung thư biểu mô tuyến .

, chúng thường xuất phát từ các phế quản nhỏ và các tiểu phế quản và như vậy khối u có thể phát triển trong và ở phế nang cho nên còn gọi là ung thư phé quản phế nang ( bronchioalveolar carcinoma ) Ung thư tuyên ngoại vi còn có còn có thể có nguồn gốc từ các các sẹo phổi (pulmonary scars ) có thể cho rằng các sẹo giam giữ tế bào tiểu phế quản trong tổ chức xơ gọi là ‘scar carcinoma “

U xuất phát từ màng phổi gọi là u trung biêu mô (mesotheliomas.)

Mô bệnh học : Ung thư phế quản giai đoạn sớm thường chỉ được phát hiện tình cờ khi khám các bệnh khác .

Các khối u khi được phẫu thuật ngoại khoa Hình ảnh đai thể

Phân l oại vi thể

Squamous cell carcinom (30%)

adenocarcinoma a (30%)

large –cell undiffrentiated carcinoma (10%)

small -cell carcinoma (20%)

tumor of mixed pattern (10%)

mỗi typ vi thể này có hình ảnh khác nhau có thể chúng chồng lấn lên nhau . Để thụan tiện cho purpose mục đích lâm sàng người ta chia ung thư tế bào nhỏ ( small cell carcinoma )và không nhỏ (non small cell lung carcinoma ) Ung thư tế bào nhỏ tiên lượng tồi hơn và nó thường điều trị khác .

Khối u hỗn hợp có thành phần quan trong như u tế bào nhỏ và điều trị cũng như loại tế bào nhỏ .

Ung thư phổi là loại ung thư xâm lấn cao và di căn sớm Tại chõ khối u có thể xâm lấn vào trung thất , vào khoang màng phổi . Cùng thười gian khi chẩn đoán 70% bệnh nhân đã có di căn Gân như một nửa khối u xâm lấn bên kia phổi và di căn vào các hạch vùng .

Di căn xa thường ở gan và não còn có thể đến xương và thận và do một số lí do đặc biệt có thể tới thượng thận

Gần 10-155 bệnh nhân ung thư phổi không thấy triệu chứng trong đó gần 1/3 phát hiện khi XQ , 1/3 khi thây di căn 1/3 không thấy gì vè triệu chứng chức năng cũng như các khối u .

Triệu chứng kích thích phế quản thường là ho ho ra máu khoảng 30% bẹnh nhan

Phát triển của khối u làm tắc nghẽn phế quản và dãn phế quản và khunh hướgn dễ nhiễm trùng

Di căn xa di căn đến tuyến thượng thận là nguyên nhân bệnh Addison

Các triệu chưng khác gồm suy mòn giảm cân

 

Các Hội chưng caajn ung thư (paraneoplastic syndromes ) nguyên nhân do chế tiết quá mức của :

Parathyroid like polypeptide . các  polypeptide giống hormone cận giáp và nó làm tăng caxi máu

Adrenocorticotropic hormone (ACTH ) dẫn đến kích thích tuyến thượng thận trong hội chưng Cushing

Antidiuretic hormone giữ nước nhiều trong cơ thể cà giảm natri máu .

Ung thư phôI ngày nay là bệnh ác tính nhưng khói ung thư nguyên phát lại thường ít hơn ung thư di căn do cấu trúc của phổi lượng máu đI qua nhiều .

Các khối u khác

U carcinoid u tế bào thần kinh nộitiết

U trung biêu mô

 

 

 

 

 

1. Đại cương.
Ung thư phổi hay còn gọi là ung thư phế quản, vì đa số ung thư phổi phát sinh từ phế quản, bệnh hay gặp ở nam nhiều hơn nữ chiếm tỷ lệ 5/1, tuổi thường từ 40-60 tuổi. Phổi phải gặp nhiều hơn phổi trái, thùy đỉnh nhiều hơn thùy đáy, phế quản thùy và phế quản phân thùy hay gặp nhiều.
Hình thái học của ung thư  phổi khá phức tạp, phát hiện và chẩn đoán sớm còn gặp nhiều khó khăn, thời gian sống thêm ngắn, tỷ lệ tử vong cao.

2. Nguyên nhân và các yếu tố sinh ung thư  phổi.
- Ô nhiễm khí quyển: qua nhiều công trình nghiên cứu, người ta thấy ung thư phổi hay gặp ở những nước có nền công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, tỷ lệ ung thư phổi ở thành thị cao hơn nông thôn. Bằng nghiên cứu trên thực nghiệm và phân tích hóa học đã chứng minh được nguyên nhân sinh ung thư phổi là do những chất thải ra từ từ công nghiệp, các loại khói của sự đốt cháy không hoàn toàn, các chất phóng xạ, arsen, hydrocarbua…
- Thuốc lá: qua nghiên cứu và phân tích người ta đã xác nhận được tính chất sinh ung thư của thuốc lá, những người nghiện thuốc lá càng lâu thì khả năng sinh ung thư càng cao.
- Ung thư nghề nghiệp: do phải tiếp xúc thường xuyên với các chất hóa học như chất phóng xạ, kền, crom, goudron, amian…
- Ngoài ra chúng ta còn thấy một số yếu tố có tính chất hỗ trợ sinh ung thư phổi như di truyền, chấn thương và những tổn thương cũ ở phổi như các nốt vôi hóa, sẹo cũ, viêm phế quản mãn tính có dị sản dạng biểu bì.

3. Phát hiện và chẩn đoán ung thư phổi.
- Việc phát hiện sớn ung thư  phổi có ý nghĩa rất quan trọng trong điều trị để kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
- Các phương pháp chẩn đoán:
Khám lâm sàng, chụp X quang, nội soi kết hợp sinh thiết, chụp CT-Scanner, chụp cộng hưởng từ (MIR), xét nghiệm tế bào học và mô bệnh học.

- Chẩn đoán tế bào học qua các phiến đồ lấy từ đờm, dịch rửa phế quản, chất quét tổn thương qua nội soi phế quản, dịch chải phế quản, áp mảnh sinh thiết hoặc bệnh phẩm phẫu thuật, chọc hút dịch qua thành ngực bằng kim Abrams, Silverman.

4. Chẩn đoán phân loại mô bệnh học.
- Hiện nay có khá nhiều phân loại khác nhau về ung thư phổi.
- Năm 1967, TCYTTG đã thống nhất xây dựng được bảng phân loại mô bệnh học đầu tiên và đã được sửa đổi, bổ xung lần 2 vào năm 1981(TCYTTG, Geneve)

Bảng phân loại mô bệnh học ung thư phổi (TCYTTG, Geneve, 1981):

- Ung thư biểu mô tế bào vảy (ung thư biểu mô dạng biểu bì)
- Ung thư biểu mô tuyến
- Ung thư biểu mô tế bào nhỏ
- Ung thư biểu mô tế bào lớn
- Ung thư biểu mô tuyến vảy
- U carcinoid
- Ung thư biểu mô tuyến phế quản
- Các loại khác

5. Một số ung thư phổi thường gặp trong chẩn đoán hàng ngày.
5.1. Hình ảnh đại thể
: gồm có 3 thể.
+ Thể xâm nhiễm rốn phổi: hay gặp nhất, khối u thường có kích thước lớn trên 5 cm, phát triển sùi vào lòng phế quản hoặc xâm lấn vào thành phế quản lan ra nhu mô phổi, chúng có thể xâm lấn mạnh vào trung thất, hạch rốn phổi. Mặt cắt mềm hay rắn, màu trắng nhạt hay xám nhạt.

+ Thể ngoại vi hay thể cục: ít gặp, kích thước u thường nhỏ dưới 5 cm, đơn độc, hình tròn, nằm sát màng phổi, đôi khi có thể thấy nhiều khối u nhỏ nằm rải rác trong phổi.
+ Thể lan tràn: khối u to chiếm cả một thuỳ hay lan sang nhiều thùy hoặc cả một bên phổi. Mặt cắt thường chắc, màu xám nhạt hay vàng nhạt.

5.2. Hình ảnh vi thể:

5.2.1. Ung thư biểu mô tế bào vảy (ung thư biểu mô dạng biểu bì, ung thư biểu mô tế bào gai).
Đây là loại ung thư hay gặp, chiếm khoảng 45- 60% các thể ung thư phổi, u thường ở trung tâm và phát sinh từ những phế quản lớn gần rốn phổi.
Các tế bào trụ giả tầng quá sản, phá vỡ màng đáy, tạo thành các đám tế bào ung thư lớn, nhỏ hoặc tạo thành bè, thành dải, trung tâm các đám, các dải tế bào ung thư có thể thấy hình ảnh cầu sừng tùy thuộc vào mức độ biệt hóa của chúng. Mô đệm là tổ chức liên kết xơ dày hay mỏng, xâm nhiễm các tế bào viêm mãn tính và thường có hoại tử.

Ung thư biểu mô tế bào vảy gồm có 3 mức độ biệt hóa:
+ Biệt hóa rõ: trên hình ảnh vi thể thấy rõ các cầu nối gian bào và hiện tượng sừng hóa với những hình ảnh cầu sừng rõ.
+ Biệt hóa vừa: là độ biệt hóa trung gian giữa biệt hóa cao và biệt hóa kém.
+ Kém biệt hóa: các cầu nối gian bào và hiện tương sừng hóa chỉ thấy ở từng phần còn đại đa số không rõ các gai nối và không có hình ảnh cầu sừng trên hình ảnh vi thể.

5.1.2. Ung thư biểu mô tuyến.

Thường phát sinh từ các phế quản nhỏ ở ngoại vi hoặc từ các tuyến của phế quản. Cấu trúc u gồm các tế bào biểu mô trụ xắp xếp thành hình ống tuyến hoặc tuyến nhú hay tuyến nang. Ung thư biểu mô tuyến được chia thành các týp sau:

+ Ung thư biểu mô tuyến chùm nang: cấu trúc u gồm các tuyến chùm nang hoặc các ống nhỏ chiếm ưu thế, lòng tuyến có thể chứa chất nhầy, những u này phần lớn sinh ra từ những phế quản lớn.

+ Ung thư biểu mô tuyến nhú: cấu trúc u gồm các tế bào hình trụ phát triển lồi vào lòng tuyến tạo thành các nhú cao phủ lên trục liên kết.

+ Ung thư biểu mô tuyến phế quản-phế nang: ít gặp, đây là ung thư phát sinh từ các tế bào biểu mô lát của phế nang và biểu mô trụ của các tiểu phế quản, cấu trúc u gồm các tế bào trụ cao, có chứa chất nhầy lót mặt trong phế nang hoặc có thể tạo thành các nhú lồi vào lòng phế nang, ít gặp hình nhân chia.

5.1.3. Ung thư biểu mô tế bào nhỏ (còn gọi là ung thư biểu mô tế bào lúa mạch).
- Cấu trúc u chủ yếu gồm các tế bào nhỏ đồng dạng, lan tỏa, có kích thước thường lớn hơn tế bào lympho, nhân tròn hoặc bầu dục, bắt màu đậm, hạt nhân không nổi rõ, có nhiều hình nhân chia, các tế bào ung thư xâm lấn vào các phế nang.
- Đôi khi thấy các tế bào ung thư xắp xếp tạo thành những bó giống như một sác côm xơ hoặc xắp xếp giống như ung thư biểu mô gai hay xếp thành hình dào dậu quanh các mạch máu tạo thành những hình ảnh giả hoa hồng.v.v.

5.1.4. Ung thư biểu mô tế bào lớn.
- Cấu trúc u gồm các tế bào lớn lan tỏa, nhân to, hạt nhân rõ, bào tương nhiều.
- Các typ của ung thư tế bào lớn:
+ Ung thư biểu mô tế bào khổng lồ: mô ung thư gồm nhiều tế bào khổng lồ rất đa hình thái.
+ Ung thư biểu mô tế bào sáng, hiếm gặp gồm các tế bào có bào tương sáng hoặc như bọt, không có chất nhầy, chúng có thể không chứa glycogen. Loại ung thư biểu mô tế bào sáng có thể bao gồm cả ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mô tế bào vảy với các tế bào sáng

5.1.5. Ung thư biểu mô tuyến vảy: mô ung thư gồm cả hai thành phần ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tuyến.

5.1.6. U carcinoid là u có hệ nội tiết lan tỏa, xuất phát từ những tế bào Kultschitsky. Độ ác tính thấp. Các tế bào u xắp xếp thành hình khảm (đốm) hoặc thành bè, các tế bào có hình đa diện, bào tương sáng, nhân hình bầu dục, hạt nhân rõ, ít nhân chia.
- Đôi khi các tế bào xắp xếp thành hình tuyến nang hoặc xuất hiện các tế bào hình thoi xắp xếp thành hình dào dậu gợi hình ảnh giống như u bao schwan.

6. Di căn của ung thư phổi.
- Tại chỗ theo đường phế quản.
- Theo đường bạch huyết vào hạch lympho ở trung thất, thượng đòn, nách.v.v.
- Theo đường máu tới các tạng như gan, xương, não.v.v.

7. Phân loại ung thư phổi theo hệ TNM.
- T: U nguyên phát.

To: không xác định được u nguyên phát.

TX: có tế bào ác tính trong chất tiết phế quản phổi, nhưng không thấy u trên X quang và nội soi.

Tis: Ung thư biểu mô tai chỗ.

T1: kích thước u nhỏ hơn hoặc bằng 3 cm, khi soi phế quản thấy chưa có hiện tượng xâm lấn.

T2: kích thước u lớn hơn 3 cm, đã xâm lấn vào màng phổi.

T3: kích thước u khá lớn, đã xâm lấn thành ngực, cơ hoành, trung thất...
- N: Hạch vùng.

No: không có dấu hiệu xâm lấn hạch bạch huyết vùng.

N1: có dấu hiệu xâm lấn hạch quanh phế quản hoặc hạch rốn phổi cùng bên.

N2: có dấu hiệu xâm lấn hạch bạch huyết trung thất.
- M: Di căn xa.

Mo: không có dấu hiệu di căn xa

M1: có dấu hiệu di că xa vào các hạch vùng cơ thang, trên đòn, cổ, hạch bạch huyết rốn phổi bên đối diện...

 

 

Đăng tin lúc 06:45 ngày 20-11-2015

In trang    Gửi qua Y!M


Các bài viết khác
Bệnh thấp tim (Rheumatic heart disease )
Các u biểu mô và u tổ chức liên kết
Ung thư
Khối u
Viêm hạt (Granulomatous inflammation )
Huyết khối
Rối loạn tuần hoàn máu và bạch huyết
Các đáp ứng thích nghi của tế bào
Tổn thương thế bào: Thoái hóa và hoại tử
Viêm (INFLAMMATION)
TIN NỔI BẬT

V/v Phòng chống dịch COVID-19 trong tình...
(21:22 23-05-2020)
Thông báo về việc giả mạo Bệnh viện...
(23:05 19-05-2020)
Các bài giảng mới nhất về COVID-19
(13:57 17-04-2020)
VIDEO
 

BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
Địa chỉ : 261 Phùng Hưng - Hà Đông - Hà Nội

Giấy phép số: 170/QĐ-CT 10-02-2011