Trang chủ Thông tin y khoa Thông tin y học Ứng dụng của tế bào gốc trong điều trị xơ gan

Ứng dụng của tế bào gốc trong điều trị xơ gan

T6, 09/10/2020

Ở giai đoạn xơ gan, bệnh gan được cho là không thể hồi phục và phương pháp tối ưu nhất là ghép gan nguyên vị trí. Tuy nhiên sự thiếu hụt gan lành để ghép ngày càng tăng là một trong những nguyên nhân chính giới hạn ưu thế của phương pháp này. Thêm vào đó, trong vòng 1 thập kỷ qua sự gia tăng số lượng bệnh nhân suy chức năng gan mãn tính ngày càng tăng và cả trong tương lai do tiến triển thầm lặng của quá trình nhiễm virus viêm gan C, và sự tồn tại dai dẳng của virus viêm gan B trên toàn cầu. Do vậy, danh sách chờ đợi ghép gan ngày càng tăng, bệnh nhân có thể phải chờ đợi nhiều năm mới có thể được ghép. Xơ gan là chỉ định chính cho khoảng 5500 ca ghép gan mỗi năm ở Châu Âu [1] với chi phí ước tính khoảng 150.000$ mỗi ca. Trong khi đó do thiếu hụt nguồn gan ghép, khoảng 5-10% bệnh nhân tử vong trong thời gian chờ ghép gan tại Mỹ [2]. Sự thiếu hụt này cùng với chi phí cao, điều trị chống thải trừ sau ghép và đặc biệt là tỷ lệ bệnh nhân bệnh gan giai đoạn cuối ngày càng tăng đòi hỏi những chiến lược điều trị mới song song với ghép gan.

2.1 Nguồn gốc tế bào dùng để cấy ghép

Việc tách lấy tế bào progenitor từ người thực sự rất khó khăn trong thực tiễn lâm sàng. Nguồn gốc từ gan bao gồm gan tử thi tuy nhiên lại không đạt chuẩn về chất lượng. Tế bào gan tách từ thai bỏ đi cũng là một nguồn tế bào quan trọng. Nguồn tế bào gốc ngoài gan bao gồm: tế bào gốc tuỷ xương, máu cuống rốn, bạch cầu đơn nhân máu ngoại vi. Tế bào đơn nhân nguyên thuỷ có khả năng biệt hoá thành tiền tế bào gan (neo-hepatocytes), có đặc điểm giống với tế bào gan người về hình dáng, sự biểu hiện kháng nguyên tế bào, và các chức năng chuyển hoá đặc biệt [3-5]. Khả năng lạp lại chương trình, phát tán, và biệt hoá của tế bào mono máu ngoại vi mở ra 1 khả năng lớn cho thực tiễn lâm sàng việc ứng dụng những tế bào iPS trong việc sữa chữa và tái sinh mô [6].

Tế bào gốc trung mô (MSC- mesenchymal progenitor), tế bào gốc trung mô stromal cells, có khả năng tăng sinh cao, khả năng dính bám, chúng cư trú bên cạnh mạch máu thể niche ở tuỷ xương, và ở thành mạch máu ở hầu hết các cơ quan. MSC có khả năng biệt hoá thành nhiều dòng tế bào trung bì phôi (osteoblast, chondroblast, adipocytes, myocytes, và cardiomyocytes), tương tự như tế bào không phải trung bì phôi (như tế bào gan và tế bào thần kinh), phụ thuộc vào yếu tố vi môi trường xung quanh nó [7].

MSCs có thể là nguồn thích hợp cho liệu pháp điều trị tế bào gốc hơn là tế bào HSC do MSCs ít gây đáp ứng miễn dịch và có khả năng thích nghi khi được cấy ghép [6]. Hơn nữa, ở thí nghiệm trên động vật khi gan bị tổn thương thì MSCs có khả năng tái sinh gan cao hơn so với tế bào gốc tuỷ xương [8].

HSCs- hepatopoietic SCs và MSCs là 2 dưới nhóm chính của tế bào gốc tuỷ xương. Gan bệnh có thể thu nạp tế bào gốc cư trú, đặc biệt từ tuỷ xương, để sản sinh ra tế bào giống tế bào gan và khả năng biệt hoá cũng như thích nghi. Cấy ghép tế bào gốc tuỷ xương là một phương pháp điều trị hiệu quả nhằm phục hồi nhu mô gan và chức năng gan, giảm sự xơ hoá [9].

2.2 Yếu tố kích thích dòng bạch cầu hạt

G-CSF glanulocyte colony- stimulating factor

Nhiều loại tế bào đã được sử dụng để điều trị cho bệnh gan mạn tính, trong đó có tế bào CD34+ được tạo ra bởi yếu tố G-CSF. Gordon và cộng sự đã chọn lọc tế bào CD34+ ở máu ngoại vi sau khi được làm tăng với G-CSF, sau đó bơm dòng tế bào này thông qua động mạch gan [10]. Kết quả thu được, có sự giảm nồng độ bilirubin và tăng albumin huyết thanh ở một số bệnh nhân, mặc dù kết quả mới chỉ theo dõi sau 60 ngày đầu.

Sau đó, Spahr và cộng sự [11] đã sử dụng yếu tố G-CSF ở bệnh nhân bệnh gan do rượu cho thấy khả năng làm tăng sinh tế bào gốc của gan- HPCs hepatic progenitor cells. Pai và cộng sự [12] cho thấy có sự tăng albumin huyết thanh, giảm điểm Child- Pugh, và giảm cổ trướng ở bệnh nhân xơ gan được cấy ghép tế bào gốc CD34+ qua đường động mạch gan sau khi kích thích với G-CSF ở bệnh nhân xơ gan do rượu.

Han và cộng sự đánh giá vai trò của G-CSF ở bệnh nhân xơ gan mất bù do viêm gan virus B cho thấy dùng G-CSF, thu được tế bào bạch cầu đơn nhân máu ngoại vi, làm tăng đáng kể nồng độ albumin và giảm điểm Child- Pugh sau 6 tháng điều trị so với nhóm chỉ dùng G-CSF trong 4 ngày [13]. Tuy nhiên, đã có trường hợp vỡ lách xảy ra trong quá trình sử dụng G-CSF để thu thập tế bào gốc từ máu ngoại vi, thậm chí ở người khoẻ mạnh, do đó khi sử dụng G-CSF ở bệnh nhân xơ gan có lách to cần hết sức thận trọng [14].

2.3 Đường sử dụng tế bào gốc

Đường đưa tế bào gốc vào cơ thể thích hợp nhất phải đạt được yêu cầu: dễ dàng thực hiện, ít can thiệp và ít gây tổn thương nhất, có tỷ lệ sống sót cao nhất [15].

Truyền tế bào gốc tới gan có thể thực hiện bằng một số con đường: vào khoang màng bụng (intraperitoneal), qua catheter động mạch gan qua đường dưới da trong trường hợp suy gan cấp, qua catheter tĩnh mạch rốn, tiêm trong gan qua da (percutaneous intrahepatic route), qua tĩnh mạch cửa hoặc qua động mạch gan ở các bệnh nhân mắc bệnh gan do chuyển hoá [16], qua động mạch lách, động mạch gan và tĩnh mạch cửa ở bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính. Phương pháp sử dụng tế bào tuỷ xương tự thân cùng với kích thích của G-CSF cũng đang được nghiên cứu. Con đường được lựa chọn hơn cả là động mạch gan [12].

2.4 Tế bào gốc trong điều trị bệnh gan mãn tính trên người

2.4.1 Tế bào gốc tuỷ xương tự thân

Nghiên cứu sử dụng ghép tế bào gốc tự thân từ tuỷ xương (autologous bone marrow cell infusion- ABMi) được ứng dụng từ năm 2003 [17]. Nghiên cứu này sử dụng liệp pháp dùng ABMi, khoảng 400ml tế bào tuỷ xương tự thân được thu thập sử dụng gây mê toàn thân, sau đó cô đặc và rửa trôi để thu được tế bào tuỷ xương. Sử dụng phương pháp chuẩn (SOP- standard operating procedures) để tinh lọc lấy tế bào đơn nhân trong hỗn dịch tế bào, sau đó truyền nhỏ giọt vào tĩnh mạch ngoại vi trên cùng một bệnh nhân. Theo dõi sau 6 tháng sau liệp pháp ABMi, đánh giá tính an toàn và hiệu quả bằng xét nghiệm sinh hoá, sinh thiết gan, siêu âm ổ bụng, CT scan … Trong suốt quá trình theo dõi, không có sự thay đổi trong việc dùng thuốc, thuốc kháng virus, và các chất bổ trợ khác [17]. Kết quả cho thấy có sự cải thiện rất đáng kể về nồng độ albumin huyết thanh, protein toàn phần, và Child-Pugh sau 6 tháng điều trị. Kết quả đó cũng tương tự khi theo dõi 9 bệnh nhân sau 15 tháng.

Kim và cs năm 2011 [18] cũng cho thấy ABMi làm tăng nồng độ albumin huyết thanh, điểm Child- Pugh, dung tích của gan đo bằng MRI, và cải thiện tình trạng cổ trướng ở bệnh nhân xơ gan mất bù do HBV, và tế bào HPC đóng vai trò nền tảng qua phân tích mảnh sinh thiết gan. Tất cả 10 bệnh nhân được điều trị bằng ABMi cũng cho thấy có sự cải thiện QoL, mà không có biến chứng nặng nào xảy ra. Hơn nữa, Saito và cs [19] trong nghiên cứu gần đây cũng thấy hiệu quả và tính an toàn của phương pháp sử dụng ABMi trong điều trị bệnh nhân xơ gan do rượu.

Những kết quả trên dần khẳng định tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp sử dụng ABMi sẽ là một liệu pháp hứa hẹn trong tương lai cho những bệnh nhân xơ gan tiến triển.

Một nghiên cứu khác của Peng và cs lựa chọn 527 bệnh nhân có xơ gan mất bù do HBV, chia thành các nhóm gồm: 53 bệnh nhân được điều trị với 120ml dịch tuỷ xương tự thân qua đường động mạch gan, 105 bệnh nhân không được điều trị. Kết quả cho thấy không có biến chứng nặng xảy ra khi sử dụng dịch tuỷ xương. Bệnh nhân được chia thành nhóm theo dõi ngắn (1- 48 tuần) và theo dõi dài (đến 192 tuần), kết quả cho thấy có sự cải thiện chức năng gan trong thời gian đầu. Kết quả theo dõi dài sau đó cho thấy không có sự cải thiện tỷ lệ ung thư gan nguyên phát HCC sau khi sử dụng tế bào tuỷ xương, gợi ý rằng việc điều trị trên có thể làm tăng tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân được điều trị [20].

Một nghiên cứu khác sử dụng tế bào tế bào gốc tuỷ xương bởi Lyra và cs cho thấy việc sử dụng liệu pháp ABMi qua đường động mạch gan có tác dụng hơn so với qua đường tĩnh mạch ngoại vi ở bệnh nhân chờ ghép gan [21], [22]. Trong nhiều nghiên cứu lâm sàng khác, Esch và cs [23], [24] trong nghiên cứu của mình thấy có sự tăng lưu lượng nhánh trái tĩnh mạch cửa trên bệnh nhân có huyết khối nhánh phải sau khi được sử dụng 200ml tuỷ xương có CD133+ qua đường động mạch gan ở bệnh nhân xơ gan mất bù. Tuy nhiên, nghiên cứu này đã phải dừng lại do việc sử dụng chất cản quang gây suy thận, dẫn đến có bệnh nhân tử vong. Do đó, cần có một tiêu chuẩn rõ ràng để xác định chỉ định, đồng thời cần kiểm tra toàn diện trước thủ thuật, lựa chọn đường thích hợp để ghép tế bào gốc, nồng độ tế bào gốc và tốc độ truyền tế bào gốc. Và đồng thời cũng cần nghiên cứu các phương pháp ít xâm phạm hơn, mang lại hiệu quả tái sinh gan bằng phương pháp nuôi cấy tuỷ xương tự thân.

2.4.2 Tế bào tuỷ xương tự thân được nuôi cấy

Tế bào tuỷ xương có 2 loại tế bào gốc chính: HSCs (hematopoietic stem cells) tế bào gốc tạo máu, và tế bào gốc trung mô MSCs mesenchymal stem (stromal) cells. Các nghiên cứu cơ bản trước đây đã chứng minh hiệu quả của những tế bào này trong điều trị bệnh gan tiến triển ở động vật thực nghiệm. Sau khi tế bào gốc được tách, nuôi cấy và cấy ghép trở lại vật chủ, chúng có tác dụng tái sinh tế bào gan, cải thiện chức năng gan. Nếu việc nuôi cấy và áp dụng trong điều trị thành công thì việc sử dụng các loại tế bào trên sẽ được áp dụng rộng mở hơn, và không cần thiết phải lấy dịch tuỷ xương, không cần phải thực hiện dưới gây mê nữa. Tuy nhiên, chưa có một hướng dẫn cụ thể cho việc nuôi cấy tế bào tự thân nguồn gốc tuỷ xương và điều trị cho bệnh nhân xơ gan trên thế giới. Ở các chuyên ngành khác khác đã có một số nghiên cứu pha I sử dụng MSCs điều trị cho các bệnh nhân nhồi máu cơ tim [25], xơ teo cơ ngoại vi- amyotrophic lateral sclerosis [26] và bệnh Crohn [27].

Trong nghiên cứu của Takami và cs [28] sử dụng ABMi bằng phương pháp chọc hút tuỷ xương dưới gây mê toàn thân, sau khi lấy được một lượng nhỏ tế bào có thể đem nuôi cấy, tế bào nuôi cấy được tiêm trở lại bệnh nhân, tế bào tuỷ xương đó có thể sống sót và có hiệu quả cải thiện tình trạng xơ gan. Mohamadnejad và cs [29] điều trị bệnh nhân xơ gan với tế bào MSCs từ tế bào gốc tuỷ xương, được nuôi cấy và truyền vào máu ngoại vi cho thấy có sự cải thiện thang điểm MELD. Kharaziha và cs cũng báo cáo nghiên cứu trên 4 bệnh nhân xơ gan do virus B, 1 bệnh nhân do virus C, 1 bệnh nhân do rượu, và 2 bệnh nhân không rõ căn nguyên được điều trị với tế bào MSCs tự thân cho thấy có sự cải thiện chức năng gan thông qua thang điểm MELD, giảm từ 17,9 ± 5,6 xuống 10,7 ± 6,3. Phương pháp được sử dụng là hút khoảng 20ml dịch tuỷ xương ở cả hai bên cánh sau xương chậu dưới gây mê. Sau đó dùng phương pháp Ficoll tách lấy tế bào đơn nhân, sau đó nuôi trong vòng 2 tuần. Tiêm khoảng 3×107 – 5×107 tế bào có CD44, CD73, CD105 (là đặc trưng của tế bào MSCs) tới cùng bệnh nhân đó qua đường tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch ngoại vi[30].

Hơn nữa, gần đây Amer và cs nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân suy chức năng gan do virus C [31], hút khoảng 120ml dịch tuỷ xương từ mào chậu sau trên dưới gây mê toàn thân, sau đó tiêm tế bào MSCs nuôi cấy, đã được tiêm kích thích hướng dòng tế bào gan bằng HGF (hepatocytes growth factor), qua lách hoặc trực tiếp vào gan sử dụng kim 18G dưới hướng dẫn siêu âm ổ bụng. Kết quả cho thấy điểm MELD và Child- Pugh được cải thiện một cách có ý nghĩa so với nhóm chứng sau 2 tuần đến 6 tháng sau điều trị.Không có sự khác biệt giữa 2 đường sử dụng là qua lách và qua gan.

2.4.3 Vai trò tế bào CD34+ trong điều trị xơ gan

Các năm sau nhiều nghiên cứu tiếp tục thực hiện nhằm chứng minh vai trò và tiềm năng ứng dụng tế bào gốc tủy xương trong điều trị xơ gan hoặc bệnh gan mãn tính. Năm 2008 trong một nghiên cứu trên 9 bệnh nhân xơ gan do rượu được điều trị bằng tế bào gốc CD34+ đường động mạch gan, Pai và cộng sự đã khẳng định có sự gia tăng bình thường như mô gan, không phát hiện tổn thương ở gan và sự lưu thông tuần hoàn bình thường ở các nhánh tĩnh mạch cửa và động mạch gan sau điều trị [12]. Trong khi đó theo dõi trong thời gian khá dài (12-18 tháng) các bệnh nhân bệnh gan mãn tính được điều trị bằng tế bào gốc CD34+ làm giàu bằng các yếu tố sau: tác dụng phụ, độc tính, và các thay đổi trên lâm sàng và thông số xét nghiệm về các dòng tế bào máu và sinh hóa; Levirca và cộng sự báo cáo tất cả các bệnh nhân đều dung nạp với điều trị mà không có bất kỳ biến chứng và tác dụng phụ nào [32]. Bốn bệnh nhân biểu hiện sự cải thiện ban đầu bilirubin huyết thanh và được duy trì trong vòng 6 tháng, trong đó chỉ có một bệnh nhân tăng lượng nhỏ không đáng kể bilirubin huyết thanh trong 3 bệnh nhân được quan sát đến tháng thứ 12. Kết quả CT scan và AFP huyết thanh cho thấy không xuất hiện tổn thương gan và bất kỳ sự hình thành khối u nào trên tất cả các bệnh nhân. Thành công của nghiên cứu này cung cấp những nền tảng cơ bản cho các thử nghiệm tiếp theo về sử dụng tế bào gốc tủy xương trong điều trị xơ gan và bệnh gan mãn tính trên lâm sàng. Trong một nghiên cứu khác Khan A.A và cộng sự thử nghiệm điều trị 4 bệnh nhân suy gan mãn tính nhiễm virus HBV và HCV bằng truyền tế bào gốc CD34+ vào động mạch gan với đơn trị liệu liều 107 tế bào. Kết quả cho thấy không có các biến chứng hoặc tác dụng phụ liên quan đến qui trình kỹ thuật, cả 4 bệnh nhân đều cải thiện albumin, bilirubin và ALT huyết thanh sau 1 tháng điều trị [33].

Năm 2011 Li Nan và cộng sự báo cáo kết quả lâm sàng nghiên cứu ghép tế bào gốc tự thân CD34+ trong điều trị các bệnh nhân suy gan do viêm gan [34]. 27 bệnh nhân Child-C tham gia vào nghiên cứu trong đó có 22 bệnh nhân nhiễm HBV và 5 bệnh nhân nhiễm HCV. 50-120ml tế bào máu tủy xương được xử lý theo phương pháp Percoll lọc tách theo gradient. 20 bệnh nhân được truyền tế bào theo đường tĩnh mạch cửa, 7 bệnh nhân còn lại theo đường động mạch gan. Các bệnh nhân được theo dõi chặt 3 tháng sau khi gép tế bào gốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các bệnh nhân cải thiện chức năng gan sau một tuần điều trị. Sự hồi phục có ý nghĩa nhất đạt được sau 3 tháng ghép tế bào gốc khi bilirubin toàn phần và nồng độ albumin ở mức cao nhất. Nhìn chung kết quả lâm sàng được cải thiện ở hầu hết các bệnh nhân, hết vàng da và mức độ cổ chướng giảm.

Cũng trong năm nay trong một nghiên cứu khác, nhóm nghiên cứu tại Ai Cập đã thử nghiệm điều trị 25 bệnh nhân xơ gan Child-C nhiễm virus viêm gan C bằng tế bào gốc tủy xương. Bệnh nhân được chia làm 2 nhóm, nhóm nghiên cứu gồm 15 bệnh nhân được gép tế bào gốc gồm 2 nhóm nhỏ: nhóm 1a điều trị bằng tế bào gốc đã biệt hóa thành tế bào gan và nhóm 1b điều trị bằng tế bào gốc chưa biệt hóa; nhóm chứng gồm 10 bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ điều trị thông thường. Tế bào gốc thu hoạch từ tủy xương (mào trên xương chậu), tách bằng phương pháp dòng chảy tế bào với các dấu ấn CD34, CD29 và CD271 được nuôi cấy để tăng sinh tế bào và kích thích biệt hóa tế bào gan. Bệnh nhân được truyền tế bào gốc với liều 106 tế bào/kg theo đường tĩnh mạch ngoại vi. Kết quả sau 3 tháng và 6 tháng theo dõi sau truyền tế bào gốc cho thấy chức năng gan được cải thiện một phần với các thông số sau: tăng nồng độ prothrombin và albumin huyết thanh, giảm bilirubin và thang điểm MELD ở bệnh nhân điều trị theo phác đồ ghép tế bào gốc. Không có sự khác biệt giữa nhóm ghép tế bào gốc chưa biệt hóa và nhóm được biệt hóa thành tế bào gan trên cả lâm sàng và chỉ số cận lâm sàng. Nhóm nghiên cứu kết luận ghép tế bào gốc trung mô tủy xương chưa biệt hóa và biệt hóa thành tế bào gan có thể được sử dụng như là một phương pháp điều trị tiềm năng cho bệnh nhân xơ gan [35].

Gần đây nhất nhóm nghiên cứu tại Nhật Bản báo cáo kết quả điều trị 10 bệnh nhân xơ gan mất bù bằng tế bào gốc CD34+ được kích thích và tập trung bởi G-CSF liều 10µ/kg/day trong 5 ngày. Bệnh nhân được tiêm tế bào gốc theo đường động mạch gan với 3 liều khác nhau 5×105, 1×106 và 2×106 tế bào/kg, và được theo dõi trong 24 tháng. Kết quả nghiên cứu cho thấy G-CSF dung nạp tốt ở tất cả các bệnh nhân, không phát hiện các biến chứng hoặc tác dụng phụ. Sau 24 tuần điều trị, nồng độ albumin huyết thanh tăng lên có ý nghĩa ở nhóm được điều trị bằng tế bào gốc CD34+ với liều trung bình và liều cao. Siêu âm Doppler cho thấy sự tăng lên có ý nghĩa cường độ và thể tích dòng máu ở gan sau điều trị bằng tế bào CD34+. Áp lực tĩnh mạch cửa giảm xuống ở 2 bệnh nhân điều trị bằng liều cao các tế bào CD34+. Nhóm nghiên cứu kết luận phác đồ điều trị bằng các tế bào CD34+ khả thi, an toàn và hiệu quả trong việc làm chậm lại sự suy giảm chức năng hồi phục của gan [36].

 

 

1.       Blachier, M., et al., The burden of liver disease in Europe: a review of available epidemiological data. J Hepatol, 2013. 58(3): p. 593-608.

2.       Alqahtani, S.A. and A.M. Larson, Adult liver transplantation in the USA. Curr Opin Gastroenterol, 2011. 27(3): p. 240-7.

3.       Khan, A.A., et al., Cell Therapy for Acute Liver Failure – Ideal source of cell. J Stem Cells Regen Med, 2008. 4(1): p. 2-8.

4.       Kallis, Y.N., M.R. Alison, and S.J. Forbes, Bone marrow stem cells and liver disease. Gut, 2007. 56(5): p. 716-24.

5.       Habibullah, C.M., Stem cells in digestive diseases. Indian J Gastroenterol, 2007. 26 Suppl 1: p. S23-5.

6.       Lysy, P.A., et al., Stem cells for liver tissue repair: current knowledge and perspectives. World J Gastroenterol, 2008. 14(6): p. 864-75.

7.       Jiang, Y., et al., Pluripotency of mesenchymal stem cells derived from adult marrow. Nature, 2002. 418(6893): p. 41-9.

8.       Cho, K.A., et al., Mesenchymal stem cells showed the highest potential for the regeneration of injured liver tissue compared with other subpopulations of the bone marrow. Cell Biol Int, 2009. 33(7): p. 772-7.

9.       Santoni-Rugiu, E., et al., Progenitor cells in liver regeneration: molecular responses controlling their activation and expansion. APMIS, 2005. 113(11-12): p. 876-902.

10.     Gordon, M.Y., et al., Characterization and clinical application of human CD34+ stem/progenitor cell populations mobilized into the blood by granulocyte colony-stimulating factor. Stem Cells, 2006. 24(7): p. 1822-30.

11.     Spahr, L., et al., Granulocyte-colony stimulating factor induces proliferation of hepatic progenitors in alcoholic steatohepatitis: a randomized trial. Hepatology, 2008. 48(1): p. 221-9.

12.     Pai, M., et al., Autologous infusion of expanded mobilized adult bone marrow-derived CD34+ cells into patients with alcoholic liver cirrhosis. Am J Gastroenterol, 2008. 103(8): p. 1952-8.

13.     Han, Y., et al., Controlled trials in hepatitis B virus-related decompensate liver cirrhosis: peripheral blood monocyte transplant versus granulocyte-colony-stimulating factor mobilization therapy. Cytotherapy, 2008. 10(4): p. 390-6.

14.     Falzetti, F., et al., Spontaneous rupture of spleen during peripheral blood stem-cell mobilisation in a healthy donor. Lancet, 1999. 353(9152): p. 555.

15.     Croker, A.K. and A.L. Allan, Cancer stem cells: implications for the progression and treatment of metastatic disease. J Cell Mol Med, 2008. 12(2): p. 374-90.

16.     Kuo, T.K., et al., Stem cell therapy for liver disease: parameters governing the success of using bone marrow mesenchymal stem cells. Gastroenterology, 2008. 134(7): p. 2111-21, 2121 e1-3.

17.     Terai, S., et al., Improved liver function in patients with liver cirrhosis after autologous bone marrow cell infusion therapy. Stem Cells, 2006. 24(10): p. 2292-8.

18.     Kim, J.K., et al., Autologous bone marrow infusion activates the progenitor cell compartment in patients with advanced liver cirrhosis. Cell Transplant, 2010. 19(10): p. 1237-46.

19.     Saito, T., et al., Potential therapeutic application of intravenous autologous bone marrow infusion in patients with alcoholic liver cirrhosis. Stem Cells Dev, 2011. 20(9): p. 1503-10.

20.     Peng, L., et al., Autologous bone marrow mesenchymal stem cell transplantation in liver failure patients caused by hepatitis B: short-term and long-term outcomes. Hepatology, 2011. 54(3): p. 820-8.

21.     Lyra, A.C., et al., Feasibility and safety of autologous bone marrow mononuclear cell transplantation in patients with advanced chronic liver disease. World J Gastroenterol, 2007. 13(7): p. 1067-73.

22.     Lyra, A.C., et al., Infusion of autologous bone marrow mononuclear cells through hepatic artery results in a short-term improvement of liver function in patients with chronic liver disease: a pilot randomized controlled study. Eur J Gastroenterol Hepatol, 2010. 22(1): p. 33-42.

23.     am Esch, J.S., 2nd, et al., Portal application of autologous CD133+ bone marrow cells to the liver: a novel concept to support hepatic regeneration. Stem Cells, 2005. 23(4): p. 463-70.

24.     Furst, G., et al., Portal vein embolization and autologous CD133+ bone marrow stem cells for liver regeneration: initial experience. Radiology, 2007. 243(1): p. 171-9.

25.     Lasala, G.P., et al., Combination stem cell therapy for the treatment of medically refractory coronary ischemia: a Phase I study. Cardiovasc Revasc Med, 2011. 12(1): p. 29-34.

26.     Mazzini, L., et al., Mesenchymal stem cell transplantation in amyotrophic lateral sclerosis: A Phase I clinical trial. Exp Neurol, 2010. 223(1): p. 229-37.

27.     Duijvestein, M., et al., Autologous bone marrow-derived mesenchymal stromal cell treatment for refractory luminal Crohn’s disease: results of a phase I study. Gut, 2010. 59(12): p. 1662-9.

28.     Takami, T., S. Terai, and I. Sakaida, Stem cell therapy in chronic liver disease. Curr Opin Gastroenterol, 2012. 28(3): p. 203-8.

29.     Mohamadnejad, M., et al., Phase 1 trial of autologous bone marrow mesenchymal stem cell transplantation in patients with decompensated liver cirrhosis. Arch Iran Med, 2007. 10(4): p. 459-66.

30.     Kharaziha, P., et al., Improvement of liver function in liver cirrhosis patients after autologous mesenchymal stem cell injection: a phase I-II clinical trial. Eur J Gastroenterol Hepatol, 2009. 21(10): p. 1199-205.

31.     Amer, M.E., et al., Clinical and laboratory evaluation of patients with end-stage liver cell failure injected with bone marrow-derived hepatocyte-like cells. Eur J Gastroenterol Hepatol, 2011. 23(10): p. 936-41.

32.     Levicar, N., et al., Long-term clinical results of autologous infusion of mobilized adult bone marrow derived CD34+ cells in patients with chronic liver disease. Cell Prolif, 2008. 41 Suppl 1: p. 115-25.

33.     Khan, A.A., et al., Safety and efficacy of autologous bone marrow stem cell transplantation through hepatic artery for the treatment of chronic liver failure: a preliminary study. Transplant Proc, 2008. 40(4): p. 1140-4.

34.     N, L., et al., Intrahepatic transplantation of bone marrow stem cells via hepatic artery or portal vein in patients with liver cirrhosis. Journal of Chinese Clinical Medicine, 2010. 5(3).

35.     El-Ansary, M., et al., Phase II trial: undifferentiated versus differentiated autologous mesenchymal stem cells transplantation in Egyptian patients with HCV induced liver cirrhosis. Stem Cell Rev, 2012. 8(3): p. 972-81.

36.     Nakamura, T., et al., CD34(+) cell therapy is safe and effective in slowing the decline of hepatic reserve function in patients with decompensated liver cirrhosis. J Gastroenterol Hepatol, 2014. 29(10): p. 1830-8.

 

 

ThS: Đào Trường Giang

BM-K Nội Tiêu hóa


Dịch vụ thiết kế website wordpress