RICKETTSIA, CHLAMYDIA, MYCOPLASMA

T6, 09/10/2020

Rickettsia là những vi khuẩn nhỏ, ký sinh bắt buộc trong tế bào. Chúng được phân thành các nhóm dựa vào bệnh cảnh lâm sàng, dịch tễ học và đặc tính miễn dịch.

1.1. Đặc điểm sinh học.

– Hình thể. Rickettsia có nhiều hình thể khác nhau: trực khuẩn ngắn (kích thước 0,3-0,6mm) hoặc hình cầu. Chúng đứng riêng lẻ, từng đôi, chuỗi ngắn hoặc hình sợi. Rickettsia mọc ở các vị trí khác nhau của tế bào.  Chúng không di động. Thường nhuộm bằng phương pháp Giemsa, chúng có màu xanh tím, nhuộm phương pháp Macchiavello chúng có màu đỏ, tương phản với màu xanh của bào tương xung quanh. Rickettsia không bắt màu Gram.

–  Nuôi: Rickettsia ký sinh bắt buộc trong tế bào, vì vậy nuôi chúng phải dựa vào tế bào sống. Có nhiều động vật cảm thụ với Rickettsia (chuột lang, chuột nhắt trắng, và côn trùng chân đốt hút máu như rận, ve. Rickettsia mọc nhanh ở túi lòng đỏ phôi gà 7 ngày. Rickettsia phát triển nhiều ở màng niệu đạo, túi noãn hoàng.

– Cấu trúc: Tương tự như tế bào vi khuẩn gồm: thành tế bào, bào tương và chất nhân . Rickettsia chứa cả AND và ARN. Tỷ lệ ARN/ AND= 3,5/1 (giống vi khuẩn).Thành tế bào cấu tạo bởi peptidoglycan, chứa acid muramic và acid diaminopimelic, vì thế nó giống như thành tế bào vi khuẩn Gram âm.

– Sinh sản: Chúng sinh sản  bằng hình thức chia đôi giống như vi khuẩn. Tốc độ sinh sản chậm so với vi khuẩn và virut. Ở tế bào nuôi, thời gian 1 thế hệ là 8-10 giờ ở nhiệt độ 340C.

– Chuyển hoá: . Rickettsia có các men liên quan đến chuyển hoá, nhưng không đầy đủ. Vì vậy chúng vẫn phải phụ thuộc vào chuyển hoá của tế bào sống. Rickettsia phát triển tốt nhất khi chuyển hoá tế bào chủ giảm thấp. Rickettsia bị mất hoạt tính sinh học khi giữ ở 00C và ủ vài giờ ở 360C, do mất đi nicotinamid adenin đinucleoti (NAD).

– Sức đề kháng: nhanh chóng bị diệt ở nhiệt độ cao khô và hoá chất diệt khuẩn, chúng bị chết ở nhiệt độ buồng sau vài giờ 500C/10 phút, 800C/1 phút. Chúng tồn tại ở nhiệt độ thấp.

Chỉ có Rickettsia gây bệnh sốt Q là có sức đề kháng cao với điều kiện khô, nó sống nhiều tháng trong phân khô của bọ chét và trong sữa. Chịu được 600C/30;

– Kháng nguyên: Rickettsia có 2 KN đặc hiệu loài ở thành tế bào. KN không hoà tan (kháng nguyên hạt) bản chất là protein- polysaccharid, không chịu nhiệt không hoà tan trong ether.. KN hòa tan đặc hiệu nhóm, bản chất là lipit-  polysaccharid- protein , hoà tan trong ether và aceton.

Một số Rickettsia còn có kháng nguyên không đặc hiệu bản chất là Polysaccharid, có cấu tạo gần giống với KN của trực khuẩn đường ruột proteus (OX2, OX19, OX­k).KN này được sử dụng trong phản ứng Weil- Felix.

 

1.2. Khả năng gây bệnh.

– Độc tố.

Độc tố của Rickettsia có tính chất gây tan máu hoại tử. Độc tố chỉ có hoạt tính khi Rickettsia còn sống, và thành tế bào còn nguyên vẹn (độc tố gắn liền với thân Rickettsia). Độc tố này bị huỷ ở nhiệt độ 600C/30phút hoặc xử lý formalin 0,375%, nhưng vẫn giữ được tính kháng nguyên . Độc tố bị trung hoà bởi kháng độc tố.

– Cơ chế gây bệnh.

Rickettsia phát triển ở tế bào nội mạc của các mạch máu nhỏ mao mạch và gây viêm mạch máu. Các tế bào trở nên phù nề và hoại tử. Có hiện tượng nghẽn mạch, nặng hơn là tắc mạch và gây hoại tử.

Tổn thương mạch máu đáng chú ý là ở da (viêm nghẽn các mao mạch, gây thoát mạch và xuất hiện ban trên da). Viêm mạch máu cũng xảy ra ở nhiều cơ quan và là biểu hiện cơ bản của rối loạn đông máu. Đông máu nội mạc rải rác có thể xảy ra ở não có sự tăng tập trung các tế bào lympho, bạch cầu đa nhân và đại thực bào. Tim có tổn thương tương tự ở các mạch máu nhỏ. Các cơ quan khác cũng bị ảnh hưởng.

Triệu chứng bệnh: trừ sốt Q không có tổn thương da, còn các bệnh do Rickettsia đều có các triệu chứng sốt, đau đầu, phát ban ở da, gan lách to.

– Dịch tễ học.

Trong thiên nhiên, Rickettsia được tàng trữ ở động vật gặm nhấm và 1 số thú nhỏ hoang dại, chúng là ở chứa mầm bệnh.

Môi giới truyền bệnh là các loài côn trùng chân đốt. Nói chung chúng mang mầm bệnh và không chết. Mầm bệnh phát triển và nhân lên ở tế bào biểu mô ống tiêu hoá, từ đó mầm bệnh được đào thải theo phân và tuyến nước bọt. Riêng với rận truyền bệnh sốt phát ban dịch tễ bị bệnh và chết. Các côn trùng chân đốt khác (ve, mò, bọ chét) đóng vai trò vừa là môi giới, vừa là ổ chứa mầm bệnh vì chúng có khả năng truyền mầm bệnh qua trứng cho thế hệ sau.

Bệnh do Rickettsia thường có ở bệnh thiên nhiên. Người bị nhiễm và mắc bệnh là do ngẫu nhiên.

Người bị bệnh là do bị đốt (ve, mò đốt), hoặc mầm bệnh qua da bị xây xát (tiếp xúc với  phân rận). Ngoài ra có thể lây theo đường hô hấp (Sốt Q, sốt phát ban núi đá).

– Miễn dịch.

Sau thời gian cấp tính và trong thời kỳ hồi phục hình thành kháng thể đặc hiệu có hiệu quả phòng bệnh.Nhưng cũng có bệnh thời gian miễn dịch chỉ được vài tháng và bệnh tái phát hoặc tái nhiễm tip khác.

 

1.3. Chẩn đoán.

1.3.1. Phân lập mầm bệnh

Lấy máu bệnh nhân lúc đang sốt, tiêm vào ổ bụng chuột lang, chuột nhắt trắng hoặc tiêm vào phôi gà. Khi cần điều tra dịch tễ học có thể lấy phủ tạng của động vật gặm nhấm hoặc lấy ve, bọ, mò, rận, nghiền nát pha thành hỗn dịch rồi tiêm vào động vật thí nghiệm. Theo dõi động vật, nếu ốm, mổ làm tiêu bản và nhuộm. Thường phân lập được Rickettsia vào giai đoạn sớm của bệnh, nhưng cũng có khi phân lập ở được ở giai đoạn muộn vào ngày thứ 12 của bệnh.

Nhuộm Giemsa hoặc Macchiavello để tìm mầm bệnh được bằng các phản ứng KN – KT với huyết thanh đặc hiệu. Xác định các chủng mới phân lập.

MDHQ trực tiếp cũng được sử dụng để phát hiện Rickettsia trong ve, tiêu bản làm từ tổ chức các tạng động vật, hoặc bệnh phẩm sinh thiết da từ bệnh nhân sốt phát ban núi đá.

1.3.2. Chẩn đoán

Các phản ứng huyết thanh thường được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán.

– Phản ứng không đặc hiệu: phản ứng Weil-Felix.

Phản ứng này dùng để chẩn đoán những Rickettsia có kháng nguyên chung với trực khuẩn Proteus. Vì thế phản ứng này không dùng để chẩn đoán bệnh sốt Q, sốt chiến hào (do R.quintana), sốt phát ban giống đậu (do R.akari).

Hiện nay thế giới ít dùng phản ứng này vì  tính đặc hiệu thấp. Việt Nam vẫn sử dụng vì chưa có nhiều KN đặc hiệu và vì phản ứng này tiến hành đơn giản, KN dễ sản xuất và cũng có giá trị chẩn đoán nhất định.

– Phản ứng đặc hiệu.

– MDHQ gián tiếp: sử dụng KN của Rickettsia đã được sản xuất sẵn để phát hiện kháng thể IgM và IgG. Trong phản ứng kháng thể được phát hiện với globulin kháng người gắn chất huỳnh quang. Phản ứng này đặc hiệu loài, tuy nhiên cũng có thể có phản ứng chéo.

–         Phản ứng kết hợp bổ thể (CF)

– Các phản ứng đặc hiệu khác: phản ứng ngưng kết, vi ngưng kết, phản ứng ngưng kết hồng cầu thụ động, phản ứng ngưng kết latex, phản ứng miễn dịch enzym CEIA).

Phương pháp sinh học phân tử: phản ứng PCR cũng được sử dụng để chẩn đoán.

1.4. Phòng và điều trị.

– Phòng bệnh.

-Phòng không đặc hiệu: bao gồm các biện pháp vệ sinh cá nhân, cải tạo hoàn cảnh, xua đuổi và diệt côn trùng, cách ly và điều trị bệnh nhân, uống thuốc kháng sinh khi vào ổ dịch.

– Phòng đặc hiệu.

Vac xin chết chế từ mô tế bào nhiễm Rickettsia (như ruột rận, phổi chuột, màng lòng đỏ phôi gà) vac xin chết không gây được miễn dịch hoàn toàn đảm bảo, nhưng có tác dụng làm bệnh nhẹ.

Vac xin sống giảm độc lực: loại vac xin này tiến bộ hơn vac xin chết, nhưng có nhược điểm là vẫn còn gây phản ứng phụ do các thành phần protex tổ chức có trong vac xin. Việc bảo quản bằng đông khô để có vac xin sống phối hợp với kháng sinh.

– Điều trị.

Điều trị kháng sinh chỉ ức chế được Rickettsia phát triển, chứ không loại trừ được chúng. Sự hồi phục của bệnh một phần phụ thuộc vào cơ chế đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân.

Chloramphenicol và Tetracyclin có hiệu quả điều trị, dùng đường uống hàng ngày và tiếp tục 3-4 ngày sau hồi phục. Nếu ngừng kháng sinh sớm bệnh dễ tái phát. Có thể dùng aureomycin, lincomycin, rovamycin, fluoroquinolon.

Riêng Sulfamid làm tăng cường bệnh, nên chống chỉ định dùng.

1.5. Rickettsia tsutsugamushi

Gây bệnh sốt mò (hay bệnh tsutsugamushi (hay còn gọi là R.orientalis) gây ra. Năm 1930, mầm bệnh này được phân lập ở Nhật Bản.

Khả năng gây bệnh.

Môi giới mang truyền R.orientalis là ấu trùng mò. Những ấu trùng mò này không bị bệnh và nó có thể truyền mầm bệnh cho ấu trùng mò đời sau quả trứng.

Động vật gặm nhấm nhỏ (chuột, sóc) bị ấu trùng mò đốt, trở thành vật chủ tự nhiên của R.orientalis. ấu trùng mò là môi giới truyền mầm bệnh giữa các loài động vật  (mò – chuột – mò), tạo thành ổ bệnh thiên nhiên ở khu vực có sinh địa cảnh thích hợp (rừng có nhiều bụi rậm, lau sậy, suối, khe nhỏ, nhiệt độ, độ ẩm).

Người bị mắc bệnh là do ấu trùng mò đốt.

Rickettsia xâm nhập tế bào nội mạc huyết quản nhỏ, gây viêm phù nề và tắc mạch. Ủ bệnh khoảng 2 tuần. Có nốt loét ở vị trí mò đốt. Bệnh biểu hiện với các triệu chứng sốt, đau đầu, sưng hạch lympho và ban trên da. Ban bắt đầu từ thân và lan đến chi. Khác với sốt phát ban núi đá, ban không có ở lông bàn tay, gan bàn chân và mặt.

Sau khi khỏi bệnh có miễn dịch vài năm với đồng chủng (chính typ đã gây bệnh). Đối với các typ khác có miễn dịch ở mức độ thấp (vài tháng) hoặc không có miễn dịch. Vì thế, người rất dễ bị mắc lại với typ khác.

Bệnh thường xảy ra ở Châu Á như ấn Độ, Đông Nam Á, miền đông nước Nga, châu úc. Nhiều địa phương ở nước ta có lưu hành bệnh này và nhiều vụ dịch đã xảy ra.

Chẩn đoán
Phân lập mầm bệnh

Lấy máu bệnh nhân lúc đang sốt (tốt nhất là chưa dùng kháng sinh), tiêm ngay vào ổ bụng chuột nhắt trắng. Sau 7 ngày chuột có thể ốm, mổ chuột, lấy dịch xuất tiết trong khoang bụng, tổ chức tạng làm tiêu bản. Nhuộm theo phương pháp Giem sa, phát hiện mầm bệnh trên tiêu bản. Xác định các chủng mới phân lập bằng phản ứng miễn dịch như phản ứng kết hợp bổ thể, phản ứng MDHQ với các kháng huyết thanh mẫu.

Chẩn đoán huyết thanh.

Phản ứng Weil- Felix.

Phản ứng này phát hiện kháng thể ngưng kết  ở huyết thanh bệnh nhân. Đây là phản ứng không đặc hiệu.Kháng nguyên của phản ứng là kháng nguyên của trực khuẩn đường ruột Proteus vulgaris (OX19, OX2), Proteus mirabilis (OXK). Phản ứng có thể thực hiện trong ống nghiệm. Cho kháng nguyên và huyết thanh bệnh nhân lắc đều, để tủ ấm 370C/2h, để tiếp tủ lạnh 4-100C qua đêm, đọc kết quả. Với sốt mò, chỉ dương tính với kháng nguyên OXK.

Các phản ứng huyết thanh đặc hiệu Phản ứng miễn dịch huỳnh quang , Phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp, Phản ứng vi ngưng kết

Phòng và điều trị

Phòng bệnh : Phòng bệnh khẩn cấp khi phải đi vào vùng có ổ bệnh : uống Tetracyclin, aureomycin. Xua, diệt côn trùng, tránh mò đốt, diệt vật chủ tàng trữ mầm bệnh (chuột). Chưa có vac xin tốt để phòng bệnh. Vac xin chết không có tác dụng. Đang nghiên cứu vac xin sống kết hợp với kháng sinh.

Điều trị Dùng kháng sinh Chloramphenicol, Tetracyclin, Aureomycin. Không dùng Sulfamid để điều trị.

 

2. CHLAMYDIA

 

Chlamydia là một giống thuộc bộ Chlamydiales, họ Chlamydiaceae. Chlamydia được chia thành 3 loài: C. trachomatis, C. pneumoniae, C. psittaci. Chúng gây nhiều bệnh rất khác nhau và đã được mô tả từ lâu như bệnh mắt hột, bệnh sốt vẹt – sốt chim và nay người ta đang quan tâm đến bệnh lây truyền qua đường tình dục.

2.1. Đặc điểm sinh học của Chlamydia

– Hình thể

Tất cả các Chlamydia đều có hình thể tương tự nhau. Chúng có dạng hình cầu, không di động. Dưới kính hiển vi quang học vi khuẩn có hình cầu hoặc bầu dục. Dưới kính hiển vi điện tử là một vật thể nhân dày đặc với màng bọc đặc trưng của vách tế bào.

Chu kỳ phát triển của Chlamydia tạo thành hai thể khác nhau: thể cơ bản (EB: elementary body) và thể lưới (RB: reticulate body). Thể EB là thể gây nhiễm. Thể EB kích thước đường kính 0,3mm, thể RB đường kính 0,5 – 1mm.

– Chu kỳ phát triển

Chu kỳ phát triển của Chlamydia bắt đầu khi thể EB bám và xâm nhập vào tế bào chủ. Tế bào chủ của Chlamydia thường là tế bào biểu mô ở kết mạc mắt, đường hô hấp, đường tiết niệu sinh dục, trực tràng. Vào tế bào chủ, thể EB to lên phát triển thành thể RB. Thể này chia đôi thành các thể EB và tạo thành các hạt vùi trong bào tương tế bào chủ. Các thể EB mới tạo thành, được giải phóng khỏi tế bào chủ và gây nhiễm tế bào khác. Thời gian 1 chu kỳ phát triển này từ 40 – 48 giờ.

– Cấu trúc và thành phần hoá học

Thành tế bào có cấu trúc tương tự như VK Gram âm, nhưng có tương đối nhiều lipid. Nó không có peptydoglycan điển hình như của VK, mà chủ yếu là chất cơ bản tetrapeptid.

Protein màng ngoài chứa KN đặc hiệu loài và dưới loài. LPS ở thành tế bào có KN chung cho giống. Chlamydia có cả ADN và ARN.

Chlamydia có độc tố (Toxic Principle) bị phá huỷ bởi nhiệt. Độc tố này giết chết chuột nhắt trắng khi tiêm tĩnh mạch liều Chlamydia gây nhiễm > 108.

– Tính chất nhuộm

Nhuộm Chlamydia tương tự Rickettsia. Thể EB có màu hồng khi nhuộm Giemsa, tương phản với nền màu xanh của tế bào chủ. Thể RB có màu xanh khi nhuộm Giemsa. Chlamydia không phản ứng với thuốc nhuộm Gram

Nhuộm Chlamydia và thể vùi bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang với các kháng thể đặc hiệu nhóm, loài hoặc typ huyết thanh.

– Kháng nguyên

Chlamydia có KN nhóm chung (đặc hiệu giống) bản chất là LPS, ổn định với nhiệt. KN đặc hiệu loài và đặc hiệu type huyết thanh là protein màng ngoài.

– Nuôi cấy

Chlamydia ký sinh bắt buộc bên trong tế bào, bởi vì chúng không có khả năng tổng hợp ATP và phải phụ thuộc vào năng lượng của tế bào chủ.

Chlamydia được nuôi cấy trên tế bào nuôi McCoy, HL2, Hep-2, Hela 229. Tất cả Chlamydia đều mọc ở túi lòng đỏ phôi gà . Đôi khi chuột nhắt trắng cũng được sử dụng để phân lập.

–  Sức đề kháng

Sức đề kháng của Chlamydia yếu, đễ bị tiêu diệt bởi sức nóng, chất sát khuẩn. Bị diệt ở 600/10 phút, Ether/ 30 phút, Phenol 0,5 %/24 giờ.

Chúng tồn tại nhiều năm ở nhiệt độ -500C đến -700C

Chlamydia nhạy cảm với nhiều kháng sinh: kháng sinh ức chế tổng hợp thành tế bào (penicillin, cephalosporin), kháng sinh ức chế tổng hợp protein (tetracyclin, erythromycin), kháng sinh ức chế tổng hợp folate (sulfonamid). Chúng không chịutác dụng của aminoglycosid.

– Phân loại

Căn cứ vào kháng nguyên, hạt vùi, nhạy cảm với sulfonamid và bệnh gây nên, Chlamydia được chia thành 3 loài:

. C. trachomatis gây bệnh mắt hột, bệnh viêm tiết niệu sinh dục (lây qua đường tình dục), bệnh viêm hạch bạch huyết hoa liễu.

. C. pneumoniac gây bệnh viêm đường hô hấp trên và dưới

. C. psittaci gây bệnh sốt vẹt (Psittacosis)

C. trachomatis có KN chung đặc hiệu nhóm và KN đặc hiệu loài. C. trachomatis có 15 serovar (A, B, Ba, C – K, L1 – L3). Các serovar liên quan đến bệnh mắt hột là A, B, Ba và C. Các serovar liên quan đến bệnh lây truyền qua đường tình dục là D – K, và liên quan đến viêm hạch bạch huyết hoa liễu là L1, L2, L3.

2.2. Khả năng gây bệnh và dịch tễ

Người là vật chủ  tự nhiên của C. trachomatis, khỉ và tinh tinh có thể bị bệnh ở mắt và đường sinh dục.

Bệnh mắt hột (Trachoma)

Bệnh mắt hột đã được miêu tả ở Aicập từ 3800 năm trước. Đó là một bệnh viêm đường kết mạc mạn tính, bắt đầu là viêm cấp ở kết mạc và giác mạc, tiến triển thành sẹo và có thể mù loà.

Ở vùng có dịch lưu hành, thường có kết hợp với viêm kết mạc do VK. Trẻ em thường bị nhiều và nặng có thể dẫn tới mù (thường do bội nhiễm vi khuẩn).

Viêm tiết niệu sinh dục và viêm kết mạc thể vùi

C. trachomatis serovar D, E, F, G, H, I, J, K gây bệnh lây qua đường tình dục và có thể gây viêm kết mạc thể vùi.

Ở nam gây viêm niệu đạo không do lậu, có thể gây viêm mào tinh hoàn và tuyến tiền liệt. Ở nữ gây viêm niệu đạo, cổ tử cung, viêm vòi trứng, có thể dẫn tới vô sinh và chửa ngoài tử cung.

Có thể có sự phối hợp các bệnh khác như lậu, giang mai, Trichomonas, Herpes.

Bệnh viêm hạch bạch huyết hoa liễu (Lymphogranuloma venereum)

Đây là bệnh lây qua đường tình dục. do C. trachomatis typ huyết thanh L1, L2, L3 gây ra được đặc trưng bởi viêm hạch bẹn có mủ. Bệnh thường gặp ở vùng khí hậu nhiệt đới, ở những người du lịch đến vùng có bệnh lưu hành.

Bệnh lây qua đường tình dục, nhưng không phải duy nhất. Có thể lây qua mắt (viêm kết mạc) đường sinh dục và trực tràng là ổ chứa mầm bệnh.

2.3. Chẩn đoán

Phương pháp trực tiếp

–    Bệnh mắt hột: bệnh phẩm nạo các nang ở kết mạc nhuộm Giemsa hoặc kháng thể huỳnh quang để quan sát các hạt vùi trong bào tương tế bào biểu mô. Chúng thường xuất hiện nhiều nhất vào giai đoạn sớm của bệnh và ở kết mạc bờ mi trên.

–    Bệnh sinh dục – tiết niệu: mủ, dịch và tế bào biểu mô ở niệu đạo, cổ tử cung, âm đạo. Lấy bệnh phẩm cổ tử cung: dùng tăm bông cán nhựa, đưa vào cổ tử cung sâu 1-2 cm. Bệnh phẩm giữ ở môi trường vận chuyển hoặc để ở nhiệt độ lạnh (tủ lạnh) trước khi chuyển đến phòng xét nghiệm.

Phương pháp chẩn đoán nhanh phát hiện kháng nguyên trong bệnh phẩm:

Phương pháp miễn dịch Enzym (EIA): phát hiện kháng nguyên LPS đặc hiệu nhóm của thể EB có trong bệnh phẩm. Có thể dùng nhiều loại bệnh phẩm (dịch sinh dục, tiết niệu, mắt, nước tiểu). Kết quả đọc trong thời gian 3 – 5 giờ.

Phương pháp miễn dịch thấm: phát hiện kháng nguyên LPS trong dịch niệu đạo, cổ tử cung, nước tiểu nam. Đọc kết quả sau 20 phút thực hiện thử nghiệm.

Các bộ kít thử nghiệm này có sẵn, để phát hiện C. trachomatis ở những nơi không có điều kiện nuôi cấy.

Nuôi cấy

Bệnh phẩm dịch tiết và tế bào biểu mô từ kết mạc mắt, cổ tử cung, âm đạo, niệu đạo, mủ hạch, mảnh sinh thiết.

Cấy vào tế bào Mc Coy, Hela 229 để nhiệt độ 35 – 370C/ 48 – 72h. Quan sát hạt vùi trong bào tương bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang trực tiếp nhuộm Giemsa hay Iodin. Phương pháp kháng thể huỳnh quang có độ nhạy 80 – 95%, độ đặc hiệu 100%.

Chẩn đoán huyết thanh

–    Ở người bị bệnh mắt hột thường có kháng thể đặc hiệu giống và đặc hiệu typ huyết thanh trong dich tiết của mắt. Miễn dịch huỳnh quang là phương pháp nhạy nhất để phát hiện kháng thể.

–    Trong viêm đường sinh dục – tiết niệu, KN Chlamydia tương đối lớn nên KT xuất hiện nhiều hơn và có hiệu giá cao hơn so với bệnh mắt hột. Do mức độ lưu hành cao viêm đường sinh dục tiết niệu do Chlamydia, nên có mức kháng thể nền trong quần thể. Vì thế phương pháp chẩn đoán huyết thanh trong viêm đường sinh dục tiết niệu thường không được sử dụng.

–    Kháng thể ở bệnh nhân viêm hạch bạch huyết hoa liễu được phát hiện bằng phản ứng cố định bổ thể  (CF). Hiệu giá kháng thể > 1/64 là có gía trị chẩn đoán.

–    Ở trẻ em bị viêm phổi do C. trachomatis có thể phát hiện kháng thể IgM bằng phản ứng Micro -IF (miễn dịch huỳnh quang)

Phương pháp sinh học phân tử

2.4. Phòng bệnh và điều trị

Phòng bệnh

– Phòng bệnh chung:

–         Đối với bệnh mắt hột cần phải cải thiện chế độ vệ sinh: dùng nước sạch, không dùng chung khăn mặt, chậu rửa mặt.

–         Đối với bệnh viêm đường sinh dục – tiết niệu: cần phải chẩn đoán sớm và điều trị người bệnh kịp thời, quan hệ tình dục an toàn. Nhỏ erythromycin hoặc tetracyclin vào mắt trẻ sơ sinh.

– Phòng bệnh đặc hiệu: vacxin trên thực nghiệm chưa có kết quả tốt. Vacxin đang tiếp tục nghiên cứu.

Điều trị

C. trachomatis chịu tác dụng của sulfamid, penicillin, tetracyclin, erythromycin. Bệnh mắt hột thường được điều trị bằng sulfonamid, tetracyclin, erythromycin, doxycyclin, cho cả C. trachomatis và vi khuẩn. Dùng tại chỗ và đường uống corticosteroid tại chỗ không có chỉ định, vì có thể làm tái hoạt động bệnh mắt hột thể ẩn. Chlamydia có thể tồn tại dai dẳng trong và sau điều trị, gây tái phát.

Azthromycincó hiệu quả trong điều trị viêm sinh dục tiết niệu, erythromycin dùng cho phụ nữ có thai.

 

3. MYCOPLASMA

 

Mycoplasma được Nocard và Roux phát hiện lần đầu năm 1898 ở bò bị viêm phổi và đặt tên là Mycoplasma mycoides. Mycoplasma là những vi khuẩn khuyết thiếu vách tế bào, có khoảng 150 loài khác nhau, phần lớn chúng ký sinh hay hội sinh ở người, động vật, thực vật. Cho tới nay đã biết có ít nhất 17 loài gây bệnh cho người.

3.1. Đặc điểm sinh học

– Hình thể, kích thước.

Mycoplasma là những vi khuẩn rất nhỏ, kích thước 0,15- 0,3 μm nên không quan sát được dưới kính hiển vi quang học thông thường. Kích thước của M. pneumoniae chiều rộng 0,1- 0,2μm, chiều dài 1-2μm (so sánh với vi khuẩn trung bình chiều rộng 0,5-1μm, chiều dài 1- 4μm). Muốn quan sát được Mycoplasma phải dùng kính hiển vi nền đen hoặc kính hiển vi huỳnh quang. Chúng có kích thước nhỏ chỉ tương đương với các virus có kích thước lớn nên có thể qua lọc vi khuẩn cỡ 450nm (0,45μm).

Mycoplasma có hình thể đa dạng (hình thoi, hình cầu, hình nhẫn, hình trực khuẩn hoặc hình xoắn). Hình thể vi khuẩn khác nhau khi nuôi cấy ở môi trường khác nhau. Mycoplasma không bắt màu Gram.Việc xác định hình thể của Mycoplasma qua nhuộm Giemsa, nhuộm huỳnh quang cũng rất ít giá trị chẩn đoán phân biệt.

Mycoplasma không có hình thái cố định do chúng không có cấu trúc thành tế bào như vi khuẩn thông thường, mà chỉ được bao bọc xung quanh bằng một màng lipid (màng bào tương) có chứa sterol (không có ở vi khuẩn và virus). Vì vậy với Mycoplasma cần phải có sterol trên môi trường nuôi cấy chúng mới phát triển được. Tất cả các Mycoplasma đều đề kháng với kháng sinh nhóm beta-lactam vì đích tác động của các kháng sinh này là ức chế tổng hợp thành tế bào.

Tế bào Mycoplasma có cả ADN và ARN nhưng tỷ lệ ADN/ARN nhỏ hơn 1. Mycoplasma có genome nhỏ (0,58-1,38 megabase-pairs), hàm lượng GC là 18-40mol%.

– Nuôi cấy

Mycoplasma được xếp vào nhóm vi khuẩn vì chúng có khả năng phát triển được ở môi trường nhân tạo và trên tế bào sống. Khác với virus, Mycoplasma ký sinh cả ở bên trong và ngoài tế bào sống. Khi nuôi cấy đòi hỏi bắt buộc môi trường nuôi phải có lipoprotein và sterol. Nhiệt độ từ 35-37oC, pH7,0-7,8.

Nhiều chủng Mycoplasma phát triển trên canh thang HIPB (heart infusion peptone broth) với 2% thạch và có bổ xung 30% huyết thanh người hoặc ngựa, thỏ. Vi khuẩn mọc chậm, vì thế ủ môi trường ở 37oC trong thời 48-96 giờ, có thể lâu hơn. Khó nhận biết vi khuẩn mọc hay không vì chúng không làm đục môi trường. Lấy canh thang ly tâm nhuộm Giemsa có thể thấy sự đa hình thái của vi khuẩn. Mycoplasma có khả năng tự sinh sản theo hình thức phân đôi.

Trên môi trường nuôi cấy là các tế bào nuôi trong ống nghiệm, Mycoplasma phát triên ở trên bề mặt tế bào.

Đặc điểm tính chất sinh hoá của Mycoplasma: Nhiều chủng Mycoplasma sử dụng glucose làm năng lượng tế bào, M. hominis sử dụng arginine, Ureaplasma urelyticum yêu cầu urea. Một số chủng có enzyme peroxidase và hemolysin phân huỷ hồng cầu.

– Sức đề kháng

Mycoplasma có sức đề kháng không cao ở ngoại cảnh, dễ bị chết bởi các hoá chất khử trùng thông thường. Các axit và kiềm mạnh cũng diệt được vi khuẩn. Bị huỷ bởi nhiệt độ 60OC/2h, 100 OC/5 phút. Mycoplasma tương đối bền với nhiệt độ lạnh, đông băng được vài năm.

– Kháng nguyên

Trên người đã xác định được khoảng 17 loài khác nhau dựa trên sự khác biệt về đặc điểm sinh hoá và huyết thanh học. Các kháng nguyên này có tính đặc hiệu cho loài và type huyết thanh của Mycoplasma.

3.2. Khả năng gây bệnh

Mycoplasma nằm trong hệ vi sinh vật bình thường cư trú ở niêm mạc khoang miệng, họng, đường sinh dục nam và nữ. Chúng trở nên gây bệnh khi trong điều kiện nào đó dẫn tới có sự tăng về số lượng.

Độc lực của Mycoplasma bao gồm yếu tố bám vào bề mặt tế bào cảm thụ, gây tổn thương tế bào trực tiếp do sinh hydrogen peroxide, gốc oxide, hay qua trung gian phản ứng kháng nguyên- kháng thể hoặc cạnh tranh chất dinh dưỡng.

Mycoplasma gây bệnh ở người thường gặp 4 loài gây bệnh quan trọng là:

+ M. pneumoniae gây viêm đường hô hấp trên, gây viêm phổi không điển hình. Thường gặp ở lứa tuổi 5-20 tuổi. Có thể thành dịch, thường vào cuối mùa hè-đầu mùa thu. Bệnh lây truyền qua đường hô hấp.

+ M. hominis gây viêm đường tiết niệu sinh dục: gây nhiễm trùng phụ khoa (viêm âm đạo, tử cung, buồng trứng, vòi trứng…), có thể gây nhiễm khuẩn sau sẩy thai, viêm khớp. Bệnh lây truyền qua đường tình dục.

+ Ureaplasma urealyticum (M. urealyticum) là nguyên nhân gây viêm niệu đạo không do lậu. Bệnh lây truyền qua đường tình dục.

+M. genitalium gây viêm đường tiết niệu sinh dục không do lậu. Bệnh lây truyền qua đường tình dục.

3.3. Chẩn đoán Mycoplasma

+ Bệnh phẩm:

Có thể dùng tăm bông lấy dịch họng, mủ, đờm, dịch đường tiết niệu, sinh dục để chẩn đoán. Bệnh phẩm phải có tế bào vì Mycoplasma bám vào bề mặt tế bào chủ.

+ Nhuộm soi:

Không có giá trị chẩn đoán. Các Mycoplasma có hình thể quá nhỏ bé, không quan sát được dưới kính hiển vi bằng phương pháp nhuộm thông thường.

+ Nuôi cấy:

Nuôi cấy phân lập thường khó, đòi hỏi môi trường đặc biệt và thời gian lâu vì vi khuẩn mọc chậm.

Bệnh phẩm được nuôi cấy trên môi trường đặc giầu chất dinh dưỡng, sau 24-48 giờ, ở 37OC/10% CO2 , hình thành khuẩn lạc đường kính từ 10-50mm. Một số Mycoplasma cần thời gian nuôi cấy lâu hơn (2-3 tuần).

Có thể cấy bệnh phẩm vào canh thang trong điều kiện ái khí.

+ Chẩn đoán huyết thanh: ELISA để phát hiện sự có mặt IgM và tăng hiệu giá IgG (huyết thanh đôi lấy mẫu cách 2-3 tuần), có ý nghĩa trong chẩn đoán bệnh giai đoạn cấp.

+ Xác định nhanh Mycoplasma đường tiết niệu sinh dục bằng kit Mycoplasma DUO: hỗn dịch bệnh phẩm chứa Mycoplasma trong môi trường nuôi thích hợp được nhỏ vào các giếng chứa cơ chất arginine hoặc urea để phát hiện khả năng sử dụng arginine của M. hominis và urea của U. urealyticum qua việc tạo ra ammonia và sinh môi trường kiềm. Sau thời gian ủ 24-48 giờ ở 37oC, kết quả dương tính nếu có sự chuyển màu của chỉ thị màu.

+ Phản ứng PCR để phát hiện ADN.

3.4. Phòng bệnh và điều trị

Phòng bệnh : chưa có vacxin.

Các Mycoplasma đề kháng tự nhiên với các nhóm kháng sinh penicillin, cephalosporin, vancomycin. Chịu tác dụng của macrolides (erythromycin, azithromycin), tetracyclin cả trên invitro và invivo nên là các kháng sinh được ưu tiên lựa chọn điều trị cho bệnh nhân viêm phổi, viêm đường sinh dục tiết niệu do Mycoplasma. Quinolone cũng có tác dụng nhưng hiệu lực kém hơn.

Tài liệu tham khảo:

1-    Vi sinh y học, Học viện quân y, 2011

2-    Vi sinh y học, NXB Y học, 2008

3- Prescott; Harley, and Klein’s; Microbiology, 8th edition by Mc Graw Hill, Higher Education, 2013.


Dịch vụ thiết kế website wordpress