Trang chủ Bài giảng chuyên ngành Chuyên ngành Cận lâm sàng Sinh hóa Định lượng nồng độ tacrolimus trong máu bệnh nhân ghép thận tại Khoa Sinh hóa – Bệnh viện Quân y 103

Định lượng nồng độ tacrolimus trong máu bệnh nhân ghép thận tại Khoa Sinh hóa – Bệnh viện Quân y 103

T2, 13/06/2022

Ghép thận là kỹ thuật thường quy hiện nay tại Bệnh Viện Quân Y 103. Ca ghép thận đầu tiên được thực hiện vào tháng 6/1992. Gần đây có hàng trăm ca ghép mỗi năm. Đến nay đã thực hiện ca ghép thứ 1000 (7/2021), khẳng định uy tín, thương hiệu riêng của Bệnh viện và khoa thận tiết niệu.

Thuốc ức chế miễn dịch Tacrolimus có “cửa sổ điều trị” rất hẹp, với khoảng cách giữa mức liều không hiệu quả với liều gây độc rất nhỏ, là thuốc có mức liều nguy hiểm. Hiện chưa có chỉ dấu sinh học nào để phát hiện các ảnh hưởng này ngay tức thì.

  1. 1. Một số đặc tính của Tacrolimus

          Hầu hết người nhận tạng sẽ duy trì thuốc này đến hết đời ngay cả khi đã ngừng các loại thuốc ức chế miễn dịch khác.

          – Sự hấp thu thuốc phụ thuộc nhiều vào chức năng hệ tiêu hóa, bài tiết mật và enzym tụy. Ứ mật, viêm ruột, bệnh rối loạn hấp thu gây giảm hấp thu đáng kể, dẫn đến dao động nồng độ thuốc rất lớn ngay cả trong cùng một cá thể

          – Nhiều người bệnh nhận cùng một liều thuốc hay có nồng độ thuốc tương đương nhưng biểu hiện lâm sàng rất khác nhau.

          – Người sử dụng thuốc phải đối mặt với nhiều tác dụng phụ như nhiễm trùng và mắc các bệnh ác tính. Số lượng và mức độ biểu hiện liên quan đến sự phơi nhiễm với thuốc, nồng độ thuốc trong máu và thời gian sử dụng thuốc. Các tác dụng hay gặp như: tăng huyết áp, đái tháo đường, run tay, rối loạn lipid máu, phì đại lợi, rậm lông và đặc biệt là gây độc cho thận.

Xét nghiệm định lượng nồng độ thuốc trong máu bệnh nhân là công cụ quan trọng để theo dõi, điều chỉnh liều Tacrolimus.

  1. 2. Định lượng Tacrolimus tại khoa Sinh hóaBệnh viện 103

Xét nghiệm định lượng Tacrolimus được thực hiện trên máy Architect ci16200 theo nguyên lý miễn dịch hóa phát quang. Là phương pháp xét nghiệm hiện đại, chính xác nhất hiện nay, được triển khai ở các trung tâm ghép tạng lớn trong nước. Máu toàn phần cần được xử lý với dung dịch làm lắng và ly tâm. Mẫu thu được bảo quản trong tube riêng biệt (Transplant Pretreatment Tube) để tiến hành định lượng Tacrolimus.

Kỹ thuật xét nghiệm có bước chuẩn bị mẫu phải làm thủ công, do đó phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật của người làm xét nghiệm, cần độ tỉ mỉ, cẩn thận, các động tác phải chính xác.

Hình 1. Kỹ thuật hút mẫu

Hình 2. Kỹ thuật vortex mẫu

Tiến hành xét nghiệm

+ Kiểm tra mã vạch, đối chiếu các thông tin (họ tên, tuổi, khoa) ghi trên ống nghiệm với thông tin trên phiếu chỉ định xét nghiệm.

+ Xử lý mẫu trước khi làm xét nghiệm: Cho vào tuýp 1,5 mL theo đúng thứ tự các thành phần như sau:

– 200 µL dung dịch Tacrolimus Whole Blood Pnecipitation

– 200 µL máu toàn phần.

+ Vortex các thành phần trong tuýp thành một hỗn dịch đồng nhất.

+ Ly tâm ở t0: 2-80C trong 10 phút với tốc độ 10.000 vòng/ph.

+ Hút dịch trong phía trên trong tuýp cho vào ống nghiệm chuyên dụng để chạy XN.

Để đảm bảo chất lượng xét nghiệm thì trước khi chạy mẫu bệnh nhân phải tiến hành chạy nội kiểm (QC). Kết quả nội kiểm phải đạt yêu cầu.

– Bệnh nhân quên uống thuốc hoặc uống không đúng giờ theo yêu cầu của bác sỹ (kết quả cao hoặc thấp quá).

– Hút không đúng thể tích, chủng loại thuốc thử, vortex mẫu không đều gây sai lệch kết quả.

Tất cả những trường hợp như vậy cần kiểm tra kỹ quá trình làm xét nghiệm, kịp thời báo với bác sỹ lâm sàng để theo dõi bệnh nhân một cách tốt nhất.

Xét nghiệm Tacrolimus được chỉ định cho bệnh nhân uống thuốc ức chế miễn dịch có hoạt chất tacrolimus như Prograft, Advagraft.

Theo khuyến cáo về đích của nồng độ đáy C0 của Tacrolimus như sau: trong 2 tuần đầu:15-20ng/ml; tuần 3,4: 10-15 ng/ml; trong năm đầu tiên: 5-10ng/ml; sau năm đầu tiên: 5-7ng/ml. Về lịch theo dõi xét nghiệm: 2-3 lần/tuần trong giai đoạn đầu ngay sau ghép, làm xét nghiệm trong mỗi lần đi khám định kỳ ở giai đoạn điều trị duy trì và thực hiện thêm xét nghiệm trong trường hợp cần hiệu chỉnh liều, thay đổi hoặc nghi ngờ gặp tương tác thuốc bất lợi.

Tài liệu tham khảo

  1. 1. Hà Phan Hải An, 2021 “Sử dụng thuốc có cửa sổ điều trị hẹp trong ghép tạng”, Tạp chí nghiên cứu y học, tr300-308.
  2. 2. Đỗ Tất Cường, Bùi Văn Mạnh, Lê Việt Thắng, Phạm Quốc Toản, Hoàng Trân Anh. (2010). Nhận xét về kết quả các trường hợp ghép thận tại bệnh viện 103. Y học Việt Nam., tr306-310.
  3. 3. Bộ môn khoa Sinh hóa, 2015, “Quy trình định lượng nồng độ tacrolimus máu trên máy Architect Ci16200”.
  4. 4. Đàm Mai Hương, 2013, “Phân tích thực trạng giám sát nồng độ tacrolimus trong máu trên bệnh nhân sau ghép thận tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức”, Luận văn thạc sỹ dược học, Trường Đại Học Dược Hà Nội, tr15-20

 

                                                                                            Vũ Quang Hợp

BMK Sinh hóa BVQY 103


Dịch vụ thiết kế website wordpress